1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2025/HS-PT
Ngày: 22 - 12 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Hoàn
Ông Hồ Đức Quang
Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2025/TLPT-HS ngày 02/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh ngày 20/6/1985; Nơi cư trú: TDP A, xã H, tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ TDP A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết T và bà Nguyễn Thị T1; chồng con: Có chồng là Lê Như T2 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007; con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam mà bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/3/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Lê Thị T3, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh), có mặt.
Trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến việc kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Vào khoảng đầu tháng 01/2024; Nguyễn Thị H sinh năm 1985 ở Tổ dân phố A, xã H, tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ tổ dân phố A, thị trấn H, tỉnh Hà Tĩnh) đến nhà chị Lê Thị T3 ở thôn H, xã H, tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) chơi. Quá trình ở lại nhà chị T3 chơi, H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Vào một buổi trưa của tháng 01/2024 (không xác định được ngày cụ thể), lợi dụng lúc chị T3 đang cắt tóc cho khách, Nguyễn Thị H lén lút đi vào phòng ngủ của chị T3, lấy chiếc chìa khóa trong hộp nhựa đựng đèn pin, mở tủ lấy trộm trong chiếc túi xách màu đen của chị T3 số tiền 80.000.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng loại 24k, có khối lượng 03 chỉ và 01 đôi bông tai vàng loại 18k, có khối lượng 01 chỉ cất dấu vào trong người rồi để chìa khóa tủ lại chỗ cũ. Tiếp đó, H đi sang phòng ngủ của cháu Nguyễn Thị Huyền T4 (con gái của chị T3) tiếp tục tìm kiếm và lấy trộm số tiền 26.000.000 đồng trong túi bóng ni lông, màu đen, rồi cất giấu trong người. Sau đó, H đưa toàn bộ số tiền, vàng vừa lấy trộm được của chị T3 cất giấu vào trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát 38P1-529.33 của H. Cất giấu tài sản trộm cắp xong, H ở lại nhà chị T3 chơi thêm khoảng 03 ngày, rồi điều khiển xe mô tô cùng toàn bộ số tài sản lấy trộm của chị T3 cất giấu trong cốp xe mô tô về nhà mình. Tài sản lấy trộm được nói trên, Nguyễn Thị H trả nợ cho ngân hàng N chi nhánh H2, Hà Tĩnh II số tiền 50.000.000 đồng; trả nợ cho chị Đinh Thị H1 01 chiếc nhẫn vàng loại 24k, có khối lượng 03 chỉ và chị H1 đã bán lại chiều nhẫn này cho 01 cửa hàng ở Hà Nội (không rõ địa chỉ bán cụ thể); còn lại 01 đôi bông tai vàng loại 18k, có khối lượng 01 chỉ Hoa bán cho của hàng kinh doanh vàng ở H, tỉnh Hà Tĩnh (không rõ địa chỉ cụ thể) được số tiền 2.500.000 đồng. Số tiền bán vàng và số tiền còn lại là 56.000.000 đồng, H đã sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện mất tài sản, chị Lê Thị T3 đã trình báo sự việc đến cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 20/01/2025, Nguyễn Thị H đã tự nguyện đến khai báo với cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh về toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Bản kết luận định giá tài sản số 05/KLĐG-HĐĐGTS ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự - UBND huyện H kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng loại 24k, khối lượng 03 chỉ có trị giá 20.570.000 đồng; 01 đôi bông tai vàng loại 18k, khối lượng 01 chỉ có trị giá 4.903.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị H chiếm đoạt là 131.473.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát 38P-529.33 chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 38P1-529.33, số 030171, do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh H cấp ngày 04/6/2018 chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả đầy đủ cho bị hại số tiền 131.473.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 33, 34 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21 và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt Nguyễn Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 25/8/2025, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo vì gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có 03 con nhỏ, mẹ già hay đau ốm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H trong hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhân của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Vào buổi trưa, ngày không xác định của tháng 01/2024 tại nhà chị Lê Thị T3 ở thôn H, xã H, tỉnh Hà Tĩnh, do thiếu tiền tiêu xài và để trả nợ cá nhân, Nguyễn Thị H đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của chị T3, bao gồm: số tiền 80.000.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng loại 24k, có khối lượng 03 chỉ; 01 đôi bông tai vàng loại 18k, có khối lượng 01 chỉ để ở túi xách, cất trong tủ đồ trong
4
phòng ngủ của chị T3 và 26.000.000 đồng để trong túi nilon treo ở phòng cháu Nguyễn Thị Huyền T4 (con của chị T3).
Tổng số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 131.473.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Về hình phạt: Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ số tiền 131.473.000 đồng cho bị hại. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo, là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H cung cấp bổ sung Đơn trình bày hoàn cảnh có xác nhận của địa phương, có nội dung bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, một mình nuôi 03 con nhỏ, đã ly thân chồng từ năm 2021. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, đã bồi thường toàn bộ số tiền phạm tội, nên mức hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo.
[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5]. Về án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 và Điều 343 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
5
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H.
- Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Hà Tĩnh;
2.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Năng |
Bản án số 70/2025/HS-PT ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự phúc thẩm (về tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 70/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo
