Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 70/2025/HS-PT

Ngày 19 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Bích Liễu.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tuấn;

Bà Bùi Thị Ẩn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo Lê Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thanh N; Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1989; Nơi sinh: Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N1 (sinh năm 1962) và bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1962); Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/8/2010 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an ninh trật tự số 80/QĐ-XPHC ngày 09/8/2010.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 02 tháng 9 năm 2024, Lễ Thị Trúc L, Đào Văn Phạm T và Bùi Luân L1 cùng điều khiển xe mô tô đi vào huyện C để ăn tiệc thôi nôi. Khi cả ba dừng chờ kẹt xe tại khu vực thuộc thôn P, xã C, huyện C thì Nguyễn Đình D, Lê Thanh N và Trần Ngọc D1 điều khiển xe mô tô đi đến, dừng bên cạnh xe mô tô của L. D thấy L mặc áo quần hở hang nên thò tay định sàm sỡ thì L hất tay D ra. Thấy vậy, T dừng xe gần đó nói “mấy ông làm gì vậy” rồi cùng L và L1 điều khiển xe mô tô bỏ đi. D liền điều khiển xe mô tô chở N, còn D1 đi xe một mình đuổi theo sau. Khi đi đến gần T, D điều khiển xe áp sát rồi dùng tay đấm một cái vào vùng gáy của T. Bị đánh, T điều khiển xe bỏ chạy đến trước nhà ông Võ Thanh Đ ở thôn P, xã C thì bị D chặn xe lại và xuống xe, lao vào dùng tay, chân đấm, đá nhiều cái vào người. Thấy vậy, L lao vào ôm D can ngăn để T bỏ chạy thì D1 chạy đến ôm T vật ngã xuống đất. Sau đó, D tiếp tục lao đến, dùng chân đá và đạp vào người T, còn N đứng gần đó quan sát.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã C nhận được tin báo về vụ việc nêu trên nên ông Nguyễn Đức C - Trưởng Công an xã C đã cử ông Hồ Viết P - cán bộ Công an xã mang theo công cụ hỗ trợ (01 khẩu súng bắn đạn cao su và 01 cây gậy nhựa) đến hiện trường để ngăn cản vụ việc. Khi thấy ông P đến, Đỗ Công T1 (em rể D) điều khiển xe mô tô đến chở D đi nhưng bị ông P tiếp cận, yêu cầu dừng lại. Thấy vậy, N xông vào áp sát, ngăn cản để ông P lùi về sau, nhằm tạo điều kiện cho T1 chở D tẩu thoát. Lúc này, ông P yêu cầu N dừng lại và dùng gậy nhựa đẩy ra nhưng N không chấp hành. Thấy N hung hăng, ông P dùng gậy đánh vào vai Nhuần để trấn áp nhưng N không dừng lại mà xông vào, giật lấy gậy nhựa và đánh 01 cái vào vùng đầu của ông P thì trúng vào nón bảo hiểm. Bị Nhuần tấn công, ông P lùi về sau, lấy súng bắn đạn cao su để bắn chỉ thiên nhưng bị kẹt đạn. Trong lúc ông P đang thao tác súng thì N ném gậy nhựa xuống đất rồi cùng cả nhóm rời đi. Tại Cơ quan Công an, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 647 ngày 10/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: “Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Đào Văn Phạm T là 01%"

Ngày 09/12/2024, Đào Văn Phạm T làm đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của Trần Ngọc D1 và Nguyễn Đình D.

Đối với Nguyễn Đình D và Trần Ngọc D1 đã có hành vi dùng tay, chân đánh anh Đào Văn Phạm T gây thương tích với tỷ lệ % tổn thương cơ thể là 01%, tuy nhiên sau khi gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì anh T lại rút đơn. Việc anh T rút đơn là tự nguyện, không bị ép buộc nên không có cơ sở để xem xét. Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D và D1. Đồng thời, D, D1 và Lê Thanh N đã có hành vi rượt đuổi anh T nhưng đoạn đường rượt đuổi ngắn, sự việc xảy ra nhanh và nhóm của D không cầm hung khí, không la hét ồn ào hay lạng lách, đánh võng, gây mất trật tự, ách tắc giao thông nên hành vi trên không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”

Đối với Đỗ Công T1 và Nguyễn Đình D: khi ông Hồ Viết P đến giải quyết vụ việc thì T1 và D chấp hành yêu cầu của ông P; đồng thời việc Lê Thanh N có hành vi

“Chống người thi hành công vụ” là bộc phát, T1 và D không có lời nói hay hành động giúp N nên không đồng phạm với N.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 330, Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Thanh N 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/4/2025, bị cáo Lê Thanh N có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Lê Thanh N thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị cáo Lê Thanh N trong thời hạn nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Lê Thanh N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với kháng cáo của bị cáo Lê Thanh N, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh N 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lê Thanh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lê Thanh N trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh N đã khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 12/9/2024, Công an xã C nhận được tin báo về việc Nguyễn Đình D và Trần Ngọc D1 đánh anh Đào Văn Phạm T tại khu vực trước nhà ông Võ Thanh Đ ở thôn P, xã C, huyện C nên ông Nguyễn Đức C – Trưởng Công an xã cử ông Hồ Viết P – Cán bộ Công an xã đến hiện trường để ngăn cản vụ việc. Khi thấy ông P, Đỗ Công T1 đến chở D đi thì ông P yêu cầu D và T1 dừng lại. Sợ D bị giữ lại nên Lê Thanh N đi đến ngăn cản và dùng gậy nhựa đánh vào đầu của ông P để cản trở ông P thực hiện nhiệm vụ, tạo điều kiện cho T1 chở D bỏ trốn. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành

công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  1. [3] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo: Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự và có mức hình phạt là 06 (sáu) tháng tù. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh N 06 (sáu) tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giáo dục bị cáo cũng có thể trở thành công dân tốt.

Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Thanh N.

  1. [4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. [5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ vào b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo bị cáo Lê Thanh N, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thanh N.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh N 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lê Thanh N cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện

theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  1. [2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Cam Lâm;
  • - VKSND huyện Cam Lâm;
  • - CQĐT - CA huyện Cam Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Cam Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 70/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Nhuần chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger