Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 6 - 2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Thanh Phong – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị V, sinh năm 1990

HKTT: Xã V (nay là xã H), huyện K, tỉnh Thái Bình

Hiện nay chị V đang lao động tại Nhật Bản

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình

(Các đương sự vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Bùi Thị V trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 20/5/2008 tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã H), huyện K, tỉnh Thái Bình. Khoảng thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và hoà thuận. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Vì hoàn cảnh gia đình nên năm 2017 chị đi lao động tại Nhật Bản; chị vẫn thường xuyên gọi điện về cho gia đình, anh H và các con. Tuy nhiên do vợ chồng sống mỗi người ở một nơi, không có thời gian quan tâm và chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Chị và anh H đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh H.

+ Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 09/02/2009 và cháu Nguyễn Phương A sinh ngày 16/3/2016. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ của chị V tại xóm G, thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về nuôi con chung.

+ Về tài sản và nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Đức H không đến Toà án trình bày ý kiến và không gửi văn bản trình bày ý kiến về Toà án.

Toà án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 16/4/2025: Địa phương xác định anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Chị V và anh H có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại địa phương. Hiện tại chị V đang đi lao động tại Nhật Bản. Địa phương đã gửi giấy mời anh H lên trụ sở UBND xã để làm việc cùng Toà án theo công văn của Toà án, anh H có nhận giấy mời tuy nhiên ngày 16/4/2025 anh H không lên làm việc. Trong buổi làm việc, trưởng thôn V đã nhiều lần gọi điện cho anh H nhưng anh H không bắt máy, trốn tránh làm việc cùng Toà án. Địa phương cũng xác định anh H và chị V có xảy ra mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được. Anh H và chị V có hai con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 09/02/2009 và cháu Nguyễn Phương A sinh ngày 16/3/2016. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ của chị V tại xóm G, thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Đề nghị Toà án giải quyết về vấn đề hôn nhân, con chung theo quy định của pháp luật.

Theo đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Anh Đ và cháu Nguyễn Phương A trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn, cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ Bùi Thị V và ông bà ngoại.

Theo bản tự khai của ông Bùi Đình N và bà Trần Thị L (bố mẹ đẻ của chị V) trình bày: Ông bà cũng biết cuộc sống hôn nhân của anh H và chị V phát sinh mâu thuẫn tuy nhiên mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì ông bà không nắm rõ. Anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 09/02/2009 và cháu Nguyễn Phương A sinh ngày 16/3/2016. Hiện tại cháu Đ và cháu Phương A đang sinh sống cùng ông bà, được ông bà yêu thương và chăm sóc tốt. Ông bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu khi chị V lao động tại Nhật Bản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Hiện tại chị V đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Toà án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh Nguyễn Đức H, tuy nhiên anh H không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến, vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà. Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị V và anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị V và anh Nguyễn Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã H), huyện K, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống xa nhau nên không có thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị V xác định vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2017 đến nay khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã xảy ra trong thời gian dài. Chị V xin ly hôn, anh H biết nhưng không trình bày quan điểm, không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Toà án thể hiện việc cả hai không còn muốn duy trì cuộc sống hôn nhân nữa. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị V được ly hôn với anh H là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị V và anh H có hai con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 09/02/2009 và cháu Nguyễn Phương A sinh ngày 16/3/2016. Xét thấy, cháu A Đ và cháu Phương A đang sinh sống ổn định cùng bố mẹ đẻ chị V, hai cháu được ông bà yêu thương và chăm sóc tốt, được học tập và phát triển đầy đủ. Quá trình giải quyết vụ án anh H không trình bày ý kiến về nguyện vọng nuôi dưỡng con chung. Cả hai con chung đều có nguyện vọng được ở cùng chị V và ông bà ngoại; bố mẹ đẻ chị V cũng có nguyện vọng được thay chị V chăm sóc hai cháu khi chị V làm việc tại Nhật Bản. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của hai cháu, cần giao cả hai cháu cho chị V nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V không có ý kiến trình bày về nghĩa vụ cấp dưỡng; anh H vắng mặt, không có ý kiến trình bày nên Toà án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị V xác định không có tài sản chung và nợ chung; anh H không có ý kiến trình bày nên Toà án không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị V. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Đức H
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Bùi Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 09/02/2009 và cháu Nguyễn Phương A sinh ngày 16/3/2016.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết

    Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị V nộp tại biên lai 0000452 ngày 04/3/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Đức H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Hồng Vũ, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger