Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/02/2025

V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 544/2024/HNGĐST ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1979; Địa chỉ: khối G, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Tiến L, sinh năm 1976; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: khối G, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Canada, không rõ địa chỉ cụ thể. Vắng mặt (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2024, bản tự khai ngày 05/12/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H trình bày: Bà và ông Phạm Tiến L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/01/2005 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc, sinh được hai người con nhưng sau đó công việc làm ăn của ông L không ổn định. Năm 2018, ông Phạm Tiến L xuất cảnh sang Canada để làm ăn. Thời gian đầu ông L vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, nhưng sau đó ít dần và khoảng ba năm nay không còn liên lạc nữa. Từ đó, vợ chồng trở nên mâu thuẫn trầm trọng, cả hai không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Hiện nay, xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Tiến L. Tuy nhiên, do bà H và ông L đã lâu không liên lạc với nhau, nên bà H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của ông Phạm Tiến L tại đất nước Canada, mà chỉ biết ông L thường xuyên liên lạc với em trai ruột là ông Phạm Thành Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: phòng A, nhà C, khối G, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An và ông Đ biết thông tin, địa chỉ cụ thể của ông L tại đất nước C, nên đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Vợ chồng bà H và ông L có 02 con chung: cháu Phạm Vĩ H1, sinh ngày 12/10/2005 và cháu Phạm Tiến B, sinh ngày 15/12/2009. Hiện nay cháu H1 đã đủ tuổi trưởng thành. Khi ly hôn, bà Đặng Thị Thu H mong muốn được nuôi cả hai cháu và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, không yêu cầu ông Phạm Tiến L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn là ông Phạm Tiến L vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 489/QLXNC-Đ1 ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì: “Ông Phạm Tiến L, sinh ngày 04/11/1976 đã xuất cảnh ngày 14/10/2019 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của ông L ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng ông L vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 07/01/2025, ông Phạm Thành Đ (em trai ruột của ông L) trình bày: Ông Đ đã nhận được Công văn số 29/2024/TA-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc cung cấp địa chỉ của ông Phạm Tiến L ở nước ngoài. Ông Phạm Thành Đ là em trai ruột của ông Phạm Tiến L, sinh năm 1976 là bị đơn trong vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình với nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H. Gia đình ông Đ gồm: bố là Phạm Tiến C, sinh năm 1944; mẹ là bà Hoàng Thị C1, sinh năm 1943. Hiện nay hai ông bà đều đã chết. Ông C, bà C1 có 03 người con là: Phạm Tiến L, sinh năm 1976; Phạm Thị T, sinh năm 1979; Phạm Thành Đ, sinh năm 1981. Ông L là anh trai cả trong nhà. Ông Phạm Tiến L và bà Đặng Thị Thu H kết hôn với nhau năm 2005. Hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Vĩ H1, sinh ngày 12/10/2005 và cháu Phạm Tiến B, sinh ngày 15/12/2009. Năm 2018, ông L đi lao động tại Canada, từ đó đến nay vẫn chưa trở về nước. Thời gian đầu, ông Đ và ông L vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, đến nay ít liên lạc hơn. Nhiều lần, ông L cũng đã đề cập đến việc ly hôn với bà H nhưng vì ở xa, không có địa chỉ cụ thể tại nước ngoài nên chưa thực hiện được. Ông Đ đã thông báo cho ông L về việc cung cấp địa chỉ tại Canada nhưng ông L không cung cấp được. Bản thân ông Đ cũng không biết địa chỉ cụ thể của ông L tại nước ngoài. Về việc ly hôn của ông L và bà H, ông Đ đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 10/11/2024, bà Đặng Thị Thu H có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với ông Phạm Tiến L. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì bà Đặng Thị Thu H và ông Phạm Tiến L đều có nơi đăng ký thường trú tại khối G, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, nhưng ông Phạm Tiến L đã đi xuất khẩu lao động tại đất nước Canada từ năm 2018 đến nay chưa về. Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn ông Phạm Tiến L, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Tiến L đã đi xuất khẩu lao động tại Canada từ nhiều năm nay, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của ông L tại nước ngoài nhưng theo ông Phạm Thành Đ (em trai ruột của ông L) thì ông L hiện nay vẫn đang ở nước ngoài và có liên lạc về với ông Đ; ông Đ đã thông tin cho ông L được biết về việc cung cấp địa chỉ của ông L tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với bà H nhưng ông L vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên ông Đ cũng không biết địa chỉ cụ thể của ông L tại nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Phạm Tiến L. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa bà Đặng Thị Thu H và ông Phạm Tiến L được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có với nhau hai người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai ông bà đã có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, ông L lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, ông L đã đi xuất khẩu lao động nhiều năm nay, vợ chồng sống cách xa nhau làm mất mát về mặt tình cảm nhưng cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn bà H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của bà H và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì bà Đặng Thị Thu H và ông Phạm Tiến L có 02 người con chung là cháu Phạm Vĩ H1, sinh ngày 12/10/2005 và cháu Phạm Tiến B, sinh ngày 15/12/2009. Hiện nay cháu H1 đã đủ tuổi thành niên, còn cháu B đang do bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, bà H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, không yêu cầu ông Phạm Tiến L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Hiện nay, cháu H1 đã đủ tuổi thành niên nên Toà án không xem xét. Đối với cháu B, từ khi ông L đi nước ngoài đến nay, cháu B đã sinh sống với bà H, được chăm sóc phát triển hoàn toàn bình thường. Mặt khác, ông L đang ở nước ngoài, ông Đ (em trai ông L) cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của ông L tại nước ngoài. Do đó yêu cầu được tiếp tục nuôi con của bà H là hoàn toàn chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu B. Vì vậy, cần giao cháu Phạm Tiến B cho bà H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, cũng như nguyện vọng của cháu, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Bà H xin được trực tiếp nuôi con chung nhưng không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, bà H không yêu cầu Toà án giải quyết, ông L cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Bà Đặng Thị Thu H phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 21, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Tiến L.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Phạm Tiến B, sinh ngày 15/12/2009 cho bà Đặng Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà H không yêu cầu và ông L cũng không có ý kiến gì nên Toà án không xem xét.

    Ông Phạm Tiến L có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở ông Phạm Tiến L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Thu H không yêu cầu và ông Phạm Tiến L chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  4. Về án phí: Bà Đặng Thị Thu H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0013446 ngày 12/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: bà Đặng Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Phạm Tiến L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Quang Trung, thành phố Vinh, Nghệ An (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 002/2005 ngày 07/01/2005);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Bảo

Mai Xuân Thường

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị H và anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger