TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2025 V/v: Ly hôn giữa anh Dvà chị N | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Phấn;
Ông Vũ Xuân Thuỳ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/3/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; địa chỉ; xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn anh Trần Văn D trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân và đã được UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào năm 1990. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 3 con. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự chia sẻ trong cuộc sống. Từ năm 2002 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc đã tan vỡ nên nguyện vọng của anh được xin ly hôn chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị N1, sinh ngày 15/8/1992; Trần Văn D1, sinh ngày 17/2/1994 và Trần Minh Q, sinh ngày 29/8/2002; Hiện cả 3 con đã trường thành, khi ly hôn anh không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Anh D trình bày về việc kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 3 con. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự chia sẻ trong cuộc sống, ngoài ra do anh D có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, từ năm 2002 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc đã tan vỡ anh Trần Văn D xin ly hôn chị hoàn toàn nhất trí nhưng với điều kiện anh D làm thủ tục sổ đỏ.
Về con chung; Vợ chồng có 3 con chung như anh D trình bày là đúng, hiện 3 con đã trưởng thành chị không yêu cầu Toà án xem xét.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại UBND xã Xuân Châu
Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N là người có nơi cư trú tại xã X
* Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào ngày 12/12/1990. Anh D và chị N mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nay Dữ xin ly hôn chị N nhất trí nhưng với điều kiện anh D phải làm thủ tục sổ đỏ đất đai. Căn cứ vào lời trình bày của anh D và chị N cũng như thực trạng hôn nhân của các bên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh D và chị N được ly hôn.
* Về con chung: Anh D và chị N có 03 con chung là Trần Thị N1, sinh ngày 15/8/1992; Trần Văn D1, sinh ngày 17/2/1994 và Trần Minh Q, sinh ngày 29/8/2002; hiện cả 3 con đã trưởng thành. Khi ly hôn anh D và chị N cùng đề nghị Toà án không xem xét là phù hợp.
* Về tài sản: Anh D và chị N có nhà, đất nhưng các đương sự tự thoả thuận giải quyết với nhau là phù hợp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà phát biểu ý kiến.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.
Nội dung: Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Anh D và chị N không yêu cầu giải quyết là phù hợp.
Về tài sản: Anh D và chị N không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết là phù hợp.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật;.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N đến với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp. Trong quá trình chung sống anh D và chị N sống không hạnh phúc hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2002 đến nay, nay anh D xin ly hôn chị N nhất trí. Xét thấy, mẫu thuẫn giữa anh D và chị N là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Anh D xin ly hôn chị N nhất trí là phù hợp nên HĐXX xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh D và chị N theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Anh D và chị N có 03 con chung là Trần Thị N1, sinh ngày 15/8/1992; Trần Văn D1, sinh ngày 17/2/1994 và Trần Minh Q, sinh ngày 29/8/2002; hiện 3 con đã trưởng thành, anh D và chị N không yêu cầu Toà án xem xét là phù hợp.
- [4] Về tài sản: Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N tự thoả thuận giải quyết với nhau và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
- [5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Toà án xem xét.
- Về tài sản: Anh Trần Văn D và chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Trần Văn D phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0000371 ngày 06/3/2025 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; anh Trần Văn D đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Phạm Ngọc Long |
Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
