Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bé Hai

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Hồng T, sinh năm: 1995 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Dương Thị Hồng T trình bày: Năm 2013 qua quen biết nên chị và anh Ú có tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 18/10/2013.

Thời gian chung sống kéo dài đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn làm cho đời sống hôn nhân không hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2024 thì chị T về nhà mẹ ruột sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 4/2024 đến nay không hàn gắn được. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu:

  • + Về hôn nhân: Chị Dương Thị Hồng T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ú.
  • + Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hồng T1, sinh ngày 20/7/2016 và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 29/11/2017. Hiện con chung đang sống chung với chị Dương Thị Hồng T. Chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Nguyễn Văn Ú cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không yêu cầu nào khác.

- Anh Nguyễn Văn Ú trình bày: Anh thống nhất ý kiến trình bày của chị T về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên về nguyên nhân mâu thuẫn anh Ú cho rằng là do gia đình khó khăn nên vợ về nhà mẹ ruột sinh sống từ tháng 4/2024 đến nay.

Nay anh Nguyễn Văn Ú không đồng ý ly hôn và yêu cầu được đoàn tụ vì anh vẫn còn tình cảm với chị T và để vợ chồng cùng lo cho các con.

Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T thì anh Ú có yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 29/11/2017, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

  • + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh không yêu cầu nào khác.

- Tại bản tự khai ngày 04/3/2025 cháu Nguyễn Thị Hồng T1 và cháu Nguyễn Hoàng Q trình bày: Hai cháu có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn hai cháu được tiếp tục sống với mẹ là chị T.

Tại phiên tòa,

- Chị T trình bày:

  • + Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Ú.
  • + Về con chung: Chị T yêu cầu nuôi hai con chung tên Nguyễn Thị Hồng T1, sinh ngày 20/7/2016 và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 29/11/2017. Chị T yêu cầu anh Ú cấp dưỡng nuôi hai con chung theo quy định pháp luật.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Ú trình bày:

  • + Về hôn nhân: Anh Ú đồng ý ly hôn với chị T.
  • + Về con chung: Anh Ú yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 29/11/2017, anh Ú không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng Q. Anh đồng ý giao cháu Nguyễn Thị Hồng T1, sinh ngày 20/7/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Hồng T1. Trường hợp giao hai con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Cháu Nguyễn Thị Hồng T1 và cháu Nguyễn Hoàng Q trình bày: Hai cháu có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn hai cháu được tiếp tục sống với mẹ là chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Qua quen biết chị T và anh Ú tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 18/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của chị T trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 4/2024 đến nay không về đoàn tụ được. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cải nhau, anh Ú không lo làm ăn.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh Ú trình bày là gia đình khó khăn do anh không đi làm không có thu nhập nên chị T bỏ về nhà mẹ ruột, vợ chồng không có xảy ra cải nhau, đến nay anh đã có việc làm có thu nhập. Nhưng chị T kiên quyết ly hôn thì anh Ú đồng ý ly hôn với chị T.

Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Ú đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị T và anh Ú.

[3] Về con chung: Chị T trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hồng T1, sinh ngày 20/7/2016 và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 29/11/2017. Hiện con chung đang sống chung với chị T. Chị yêu cầu được nuôi con chung, chị yêu cầu anh Ú cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Anh Ú có yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng Q không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Anh đồng ý giao cháu Nguyễn Thị Hồng T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Hồng T1.

Xét thấy, tại bản tự khai ngày 04/3/2025 cháu Nguyễn Thị Hồng T1 và cháu Nguyễn Hoàng Q có nguyện vọng là sau khi cha mẹ ly hôn cháu được tiếp tục sống với mẹ là chị T. Tại phiên tòa cháu T1 và cháu Q vẫn giữ yêu cầu được sống với mẹ. Mặt khác, từ khi chị T và anh Ú ly thân đến nay cháu Nguyễn Thị Hồng T1 và cháu Nguyễn Hoàng Q đều do chị T chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định về cuộc sống và đang trong quá trình phát triển tâm sinh lý. Để đảm bảo ổn định cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý cho các cháu.

Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T. Giao cháu Nguyễn Thị Hồng T1 và cháu Nguyễn Hoàng Q cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Không chấp nhận yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Hoàng Q của anh Ú.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị T yêu cầu anh Ú cấp dưỡng nuôi hai con chung theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 82 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014 cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Ú không trực tiếp nuôi cháu T1 và cháu Q, do đó anh Ú phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 và cháu Q theo quy định.

Căn cứ Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014 buộc anh Ú cấp dưỡng nuôi cháu T1 mỗi tháng 1.725.000 đồng, cháu Q mỗi tháng 1.725.000 đồng, cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.

Thời hạn cấp dưỡng được tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh Ú không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002110 ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Chị T đã nộp xong.

Buộc anh Ú phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Hồng T

1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị Dương Thị Hồng T và anh Nguyễn Văn Ú.

2. Về con chung:

Giao hai con chung tên Nguyễn Thị Hồng T1, sinh ngày 20/7/2016 và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 29/11/2017 cho chị Dương Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn Ú cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Hồng T1 mỗi tháng 1.725.000 đồng, cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng Q mỗi tháng 1.725.000 đồng, cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.

Thời hạn cấp dưỡng được tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh Nguyễn Văn Ú không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Thị Hồng T và anh Nguyễn Văn Ú không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc chị Dương Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002110 ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Chị Dương Thị Hồng T đã nộp xong.

Buộc anh Nguyễn Văn Ú phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01b;
  • - VKSND huyện Tam Bình: 02b
  • - Chi cục THADS huyện Tam Bình: 01b;
  • - UBND xã Tân Phú: 01b;
  • - Đương sự: 02b;
  • - Lưu: 04b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Hồng Thắm, Nguyễn Văn Út, Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger