TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2025/DS-ST Ngày: 29-5-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thị Thùy Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nhân;
Ông Phạm Ngọc Hà;
Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 100/2025/QĐST-DS ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Phạm Khánh D – Phó phòng và bà Nguyễn Thị Kiều N – CVKH (Văn bản ủy quyền số 220/2024/GUQ-PGDTG ngày 18/11/2024)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng N1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số G đường H, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ hiện tại: Số B N, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Đại diện nguyên đơn có mặt;
Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Gọi tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng với bà Nguyễn Thị Hằng N1 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 2474872 ngày 27/12/2022, cụ thể như sau:
- Thẻ tín dụng số 4720746432;
- Hẹn mức thẻ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng);
- Ngày cấp 28/12/2022;
- Lãi suất (Trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là một phần không thể tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng.
Trong quá trình sử dụng thẻ bà N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên căn cứ thỏa thuận của hai bên về việc chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn. Ngày 10/10/2023 Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của bà N1. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà N1 đã sử dụng thẻ với số tiền 57.500.000 đồng, số tiền đã trả 19.312.000 đồng, số tiền phí, lãi, phạt: 15.202.563 đồng (Gồm lãi trong hạn 12.412.546 đồng, phí trễ hạn 2.790.017 đồng). Tính đến ngày 29/5/2025 bà N1 còn nợ Ngân hàng tổng cộng 98.801.396 đồng, trong đó tiền gốc 50.000.000 đồng đồng, tiền lãi quá hạn 48.801.396 đồng tính từ ngày 10/10/2023 đến ngày 29/5/2025.
Đại diện nguyên đơn yêu cầu buộc bà N1 thanh toán cho Ngân hàng tổng số nợ 98.801.396 đồng nêu trên. Buộc bà N1 tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh trên tiền gốc theo mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày 30/5/2025 đến khi trả hết nợ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc bà N1 trả tổng số tiền là 98.801.396 đồng (Chín mươi tám triệu tám trăm lẻ một nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng), trong đó tiền gốc 50.000.000 đồng đồng, tiền lãi quá hạn 48.801.396 đồng tính từ ngày 10/10/2023 đến ngày 29/5/2025. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ 2 nên căn cứ vào Điều 179; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng của bà N1 ngày 27/12/2022 có xác nhận phê duyệt hạn mức tín dụng của Ngân hàng, xác định được: Bà N1 có giấy đề nghị Ngân hàng cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng. Ngày 28/12/2022 Ngân hàng đã xác nhận cấp cho bà N1 01 thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng. Đồng thời theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có thỏa thuận ràng buộc bởi Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (Gọi tắt là Bản điều khoản và điều kiện) được công bố công khai chính thức trên trang website của Ngân hàng. Giấy đề nghị của bà N1 cùng với Bản điều khoản và điều kiện tạo nên một hợp đồng ràng buộc pháp lý giữa hai bên. Như vậy bà N1 đã ký kết hợp đồng tín dụng (Hình thức cấp thẻ tín dụng) với Ngân hàng và phải chịu lãi suất, các loại phí, thời hạn trả nợ theo Bản điều khoản và điều kiện của Ngân hàng.
[2.2] Theo Bảng sao kê lịch sử sử dụng thẻ của bà N1 thì bà N1 bắt đầu ngưng thanh toán nợ cho Ngân hàng từ 10/9/2023. Ngày 10/10/2023 Ngân hàng đã chuyển dư nợ thành nợ quá hạn, sau đó vào tháng 4-5/2025 bà N1 có thanh toán thêm cho Ngân hàng 2.000.000 đồng thì ngưng thanh toán cho đến nay. Căn cứ vào quá trình sử dụng thẻ bà N1 đã không thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng nên bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 18 và Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện. Qua đối chiếu tiền gốc 50.000.000 đồng mà đại diện nguyên đơn yêu cầu là phù hợp. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[2.3] Đối với lãi suất quá hạn: Lãi suất trong hạn 33,2%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày rằng áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố tại thời điểm hiện tại, nợ của bà N1 áp dụng lãi suất quá hạn là 49,8%/năm căn cứ Bản điều khoản và điều kiện. Số tiền lãi đại diện nguyên đơn yêu cầu 48.801.396 đồng áp dụng trên số tiền gốc từ ngày 10/10/2023 đến ngày 29/5/2025 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí khi yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 4.940.069 đồng (Bốn triệu chín trăm bốn mươi nghìn không trăm sáu mươi chín đồng).
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 179; Điều 227, Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hằng N1.
Bà Nguyễn Thị Hằng N1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền gốc và lãi tính đến ngày 29/5/2025 là 98.801.396 đồng (Chín mươi tám triệu tám trăm lẻ một nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng), trong đó tiền gốc 50.000.000 đồng đồng, tiền lãi quá hạn 48.801.396 đồng tính từ ngày 10/10/2023 đến ngày 29/5/2025.
Bà Nguyễn Thị Hằng N1 tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh trên tiền gốc theo mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, Bản điều khoản và điều kiện kể từ ngày 30/5/2025 đến ngày trả hết nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.183.000 đồng (Hai triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001377 ngày 27/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn chịu án phí 4.940.069 đồng (Bốn triệu chín trăm bốn mươi nghìn không trăm sáu mươi chín đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thùy Hương |
Bản án số 70/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 70/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngân hàng S kiện bà N1
