trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 70/2025/DS-ST

Ngày: 27 – 6 – 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công;
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ dân sự thụ lý số: 118/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QÐST – DS ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (MB); địa chỉ: A L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn S và ông Phạm Lê A; Cùng địa chỉ: Tòa nhà N, số I H, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương– là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 25/4/2025), vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1982; Cùng địa chỉ: C, khu phố D, phường A thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q trình bày:

Ngày 18/11/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng M) đã ký Hợp đồng cho vay số 49139.22.130.22057624.TD với ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B như sau:

Đối với khế ước số LD2232560551 ngày 21/11/2022 vay số tiền 2.500.000.000 đồng, mức lãi suất là 10%/năm và ngày đến hạn là tháng 10/2023.

Đối với khế ước số LD2301115605 ngày 11/01/2023 vay số tiền 2.500.000.000 đồng, mức lãi suất là 10%/năm và ngày đến hạn là ngày 11/12/2023.

Để đảm bảo khoản vay, ông T và bà B thế chấp tài sản gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 509, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại khu dân cư R, xã A, thị xã (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 67159.22.130.22057624.BĐ ký ngày 18/11/2022 số Công chứng số: 021194, quyển số 10/2022/TP/CC-SCC/HĐGD và toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 936, tờ bản đồ số 06-2 tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 82633.22.130.22057624.BĐ ký ngày 10/01/2023 số Công chứng số: 000365, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD.

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, ông Nguyễn Văn T đã thanh toán được cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền lãi là: 707.384.201 đồng (trong đó thanh toán khoản vay kế ước: LD2232560551 là 407.174.386 đồng và thanh toán kế ước số LD2301115605 là 370.209.815 đồng)

Từ tháng 10/2024, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B đã không trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, các văn bản nhận nợ cho nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn.

Ngày 01/04/2025, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B đã thanh toán số tiền 4.899.408.953 đồng để trả một phần dư nợ gốc, cụ thể như sau: Thu nợ gốc kế ước số: LD2232560551 số tiền 2.500.000.000 đồng và số tiền 2.399.408.953 đồng vào kế ước nhận nợ số: LD2301115605. Ông T và bà B rút tài sản bảo đảm là thửa đất số 936, tờ bản đồ số 06-2 tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 733020; số vào sổ cấp GCN: CS10427 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/4/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 27/12/2022.

Tính đến ngày 27/6/2025, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B còn nợ Ngân hàng số tiền dư nợ gốc 95.591.047 đồng đối với khế ước số LD2301115605 ngày 11/01/2023 và 333.016.571 đồng tiền lãi. Ngân hàng TMCP Q đã thông báo, công văn yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B trả nợ theo đúng quy định nhưng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B đều không thực hiện theo.

Do đó, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q với tổng số tiền là 428.607.618 đồng (bốn trăm hai tám triệu, sáu trăm lẻ bảy nghìn, sáu trăm mười tám đồng), trong đó bao gồm 95.591.047 đồng dư nợ gốc của hợp đồng cho vay số 49139.22.130.22057624.TD ngày 18/11/2022, văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 và số tiền 333.016.571 đồng dư nợ lãi.
  • Kể từ ngày 28/6/2025, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng M, tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 509, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại khu dân cư R, xã A, thị xã (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 526364; số vào sổ cấp GCN: CS15432 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/10/2021.
  • Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B đối với Ngân hàng M. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng MB.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập bà B, ông T đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên ông T và bà B đều vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngân hàng chấp hành đúng pháp luật tố tụng; ông T và bà B không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

-Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng M khởi kiện tranh chấp đối với bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T liên quan đến Hợp đồng tín dụng và bị đơn bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T cư trú tại địa chỉ C, khu phố D, phường A thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Bị đơn bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T. Ngân hàng M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Hợp đồng tín dụng và các văn bản nhận nợ được ký kết giữa các đương sự là sự tự nguyện, phù hợp pháp luật. Tổng số tiền Ngân hàng M đã cho bị đơn ông T, bà B vay là 5.000.000.000 đồng và Ngân hàng M đã giải ngân số tiền vay cho ông T, bà B theo các văn bản nhận nợ số LD2232560551 ngày 21/11/2022 vay số tiền 2.500.000.000 đồng và văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 vay số tiền 2.500.000.000 đồng. Do đó, bị đơn bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi, phí theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết.

[2.2]. Để đảm bảo khoản vay, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T sử dụng quyền sử dụng đất thửa đất số 509, tờ bản đồ số 13; tọa lạc tại khu dân cư R, xã A, thị xã (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương và thửa đất số 936, tờ bản đồ số 06-2 tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 67159.22.130.22057624.BÐ ký ngày 18/11/2022 và số 82633.22.130.22057624.BÐ ký ngày 10/01/2023.

[2.3].Theo Biên bản làm việc ngày 26/11/2024, ông T, bà B và Ngân hàng M xác nhận tổng số dư nợ của bà B, ông T đối với các văn bản nhận nợ số LD2232560551 ngày 21/11/2022 và văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 là 5.252.866.306 đồng, trong đó dư nợ gốc là 5.076.513.742 đồng và nợ lãi là 176.352.564 đồng.

[2.4]. Ngày 09/01/2025, ông T và bà B có đơn đề nghị giải chấp tài sản đối với tài sản thế chấp thửa đất số 936, tờ bản đồ 06-2 tọa lạc tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương vì đã tìm được người mua. Đến ngày 31/3/2025, Ngân hàng M có Thông báo số 762/TB-MBAMC-ĐNB về việc chấp thuận giải chấp tài sản theo đề nghị của ông T và bà B đối với thửa đất nêu trên. Theo Thông báo nêu trên, tổng số dư nợ đối với các khoản vay theo các văn bản nhận nợ số LD2232560551 ngày 21/11/2022 và văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 tính đến ngày 31/3/2025 là 5.324.589.866 đồng, trong đó dư nợ gốc là 4.995.000.000 đồng và nợ lãi là 329.598.866 đồng; đồng thời yêu cầu ông T và bà B phải thanh toán số tiền dư nợ gốc là 4.899.408.953 đồng cho các khoản vay theo các văn bản nhận nợ nêu trên chậm nhất là ngày 01/4/2025.

Đến ngày 01/4/2025, ông T và bà B thanh toán số tiền 4.899.408.953 đồng gồm 2.500.000.000 đồng cho văn bản nhận nợ số LD2232560551 ngày 21/11/2022 và 2.399.408.953 đồng cho văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023. Như vậy, bà B và ông T còn tổng dư nợ đối với 02 văn bản nhận nợ nêu trên là 428.607.618 đồng, trong đó văn bản nhận nợ số LD2232560551 ngày 21/11/2022 còn dư nợ lãi là 165.740.273 đồng và văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 là 262.867.345 đồng (dư nợ gốc là 95.591.047 đồng và dư nợ lãi 167.276.298 đồng). Tuy nhiên, sau đó ông T và bà B không tiếp tục thanh toán số tiền trên và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng M. Tính đến ngày xét xử 27/6/2025, ông T và bà B còn nợ số tiền 428.607.618 đồng, trong đó bao gồm 95.591.047 đồng nợ gốc số đối với văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 và 333.016.571 đồng nợ lãi đối với 02 văn bản nhận nợ số LD2232560551 ngày 21/11/2022 và văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023.

[2.5]. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 82633.22.130.22057624.BÐ ký ngày 10/01/2023 số công chứng số 000365, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD thì tài sản thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 509, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại khu dân cư R, xã A, thị xã (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương được bảo đảm cho các khoản vay của bà B và ông T tại Ngân hàng M. Trường hợp ông T, bà B vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng M có quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[2.6]. Theo Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Điều 100 và 103 Luật Tổ chức tín dụng năm 2024) quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm. Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm theo hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật.

Do đó, Ngân hàng M khởi kiện yêu cầu ông T và bà B có trách nhiệm trả số tiền vay nợ gốc và tiền lãi, phí còn nợ; tiền lãi phát sinh từ ngày xét xử trên dư theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng và các văn bản nhận nợ cho đến khi thanh toán hết số dư nợ. Trường hợp bà B và ông T không thanh toán thì Ngân hàng M yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

[2.7]. Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B.

[3]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

[4]. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng Ngân hàng M đã nộp. Bà B và ông T có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí tố tụng cho Ngân hàng M.

[5]. Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 36, 39, 147, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Điều 100 và 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024);
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1.1. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 428.607.618 đồng (bốn trăm hai tám triệu, sáu trăm lẻ bảy nghìn, sáu trăm mười tám đồng), trong đó bao gồm 95.591.047 đồng dư nợ gốc của hợp đồng cho vay số 49139.22.130.22057624.TD ngày 18/11/2022, văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023 và số tiền 333.016.571 đồng dư nợ lãi của hợp đồng cho vay số 49139.22.130.22057624.TD ngày 18/11/2022, các văn bản nhận nợ số LD2301115605 ngày 11/01/2023, số LD2232560551 ngày 21/11/2022.

- Kể từ ngày 28/6/2025, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và văn bản nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q, tài sản bảo đảm: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 509, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại khu dân cư R, xã A, thị xã (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 526364; số vào sổ cấp GCN: CS15432 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 22/10/2021.

- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B đối với Ngân hàng TMCP Q. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Thị B phải chịu 6.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng Ngân hàng TMCP Q đã nộp. Bà B và ông T1 có nghĩa vụ trả số tiền 6.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP Q.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T phải chịu 21.430.380 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp với số tiền 56.645.365 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000840 ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 70/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngân hàng TMCP Q - Nguyễn văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger