Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

Bản án số: 70/2025/DS-ST

Ngày: 14-11-2025

“V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thông

Ông Văn Tiến Vững

Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Đều cư trú: Thôn N, xã X, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo ủy quyền của ông C, bà T: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn C, xã X, tỉnh Phú Thọ (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã Y, tỉnh Phú Thọ;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 7 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T làm nghề nuôi trồng, cung cấp thủy sản cho các thương lái, nhà hàng, quán ăn. Thông qua quá trình giao dịch, vợ chồng ông bà có bán hàng cho anh Nguyễn Xuân Đ và chị Hoàng Thị M để anh chị buôn bán lại.

Từ năm 2023 đến năm 2025, anh Đ, chị M đã nhiều lần mua hàng của ông C, bà T nhưng chưa thanh toán hết tiền hàng. Đến ngày 28/01/2025, hai bên đối chiếu công nợ và lập giấy viết tay xác nhận tổng số tiền anh Đ, chị M còn nợ ông C, bà T là 241.900.000 đồng. Mặc dù ông C, bà T đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng anh Đ, chị M không trả. Do đó, ông C, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Đ, chị M phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ là 241.900.000 đồng. Ông bà không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn anh Nguyễn Xuân Đ, chị Hoàng Thị M vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, anh Đ, chị M đã có văn bản trình bày và thừa nhận còn nợ ông C, bà T 241.900.000 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, anh chị xin được trả dần số nợ theo lộ trình trả nợ, cụ thể như sau: Ngày 10/12/2025 (âm lịch): trả 41.900.000 đồng; ngày 10/5/2026 (âm lịch): trả 100.000.000 đồng; ngày 10/5/2027 (âm lịch): trả 100.000.000 đồng còn lại. Tuy nhiên, ông C, bà T không đồng ý cho anh, chị trả nợ dần nên anh chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Giữa ông C, bà T và anh Đ, chị M ban đầu phát sinh quan hệ mua bán hàng hóa. Sau khi hoàn tất việc giao nhận hàng, các bên đã đối chiếu công nợ và lập giấy xác nhận nợ tiền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu anh Đ, chị M phải trả toàn bộ số tiền còn nợ. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “tranh chấp kiện đòi tài sản”. Bị đơn anh Đ, chị M cư trú tại thôn D, xã Y, tỉnh Phú Thọ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – tỉnh Phú Thọ theo quy định tại các điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có văn bản ủy quyền và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Ông C, bà T yêu cầu anh Đ, chị M phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ là 241.900.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, khoản tiền 241.900.000 đồng là số tiền nợ đã được các bên đối chiếu, xác nhận. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ, chị M cũng thừa nhận nợ ông C, bà T số tiền nêu trên. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Mặc dù anh Đ, chị M đã đối chiếu và xác nhận còn nợ ông C, bà T 241.900.000 đồng, song kể từ thời điểm xác nhận nợ đến nay, anh, chị không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo đúng cam kết. Việc xin trả dần là mong muốn một phía của anh, chị nhằm gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ, nhưng không được ông C, bà T chấp thuận nên không làm phát sinh hoặc thay đổi nội dung nghĩa vụ đã xác lập giữa các bên. Do vậy, anh Đ, chị M vẫn phải thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ trả tiền theo khoản nợ đã được xác nhận. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C, bà T về việc buộc anh Đ, chị M phải trả toàn bộ số tiền 241.900.000 đồng.

Về lãi suất: Ông C, bà T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật là 5% x 241.900.000đ = 12.095.000đ.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 166, 280, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T.

Buộc anh Nguyễn Xuân Đ và chị Hoàng Thị M phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T số tiền 241.900.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu anh Nguyễn Xuân Đ, chị Hoàng Thị M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thanh toán xong.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân Đ và chị Hoàng Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.095.000 đồng (Mười hai triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Trả lại ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị T 6.045.000đ (Sáu triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003720 ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 10 – Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đỗ Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/DS-ST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 70/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger