|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2025/DS-ST Ngày: 14/4/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Bà Trần Thị Dung
- 2/ Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 665/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1.
Trụ sở: Số B - 203, đường C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn gồm:
- 1/ Bà Võ Quốc P – Phó Giám đốc chi nhánh C1, kiêm Giám đốc Phòng G1 (Có mặt).
- 2/ Bà Trần Huỳnh L – Phó phòng KHCN chi nhánh C1 (Có mặt).
Phòng G1: Số B, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo Quyết định ủy quyền số 07A/2023/QĐ-NHNA-01 ngày 03/01/2023, Quyết định ủy quyền số 267/2024/QĐ-NHNA-01 ngày 09/4/2024; Giấy ủy quyền số 282A/2024/UQ-NHNA-N.KIEU ngày 02/10/2024 và ủy quyền số 111/2025/UQ-NHNA-C.THO ngày 11/4/2025).
- Bị đơn:
- 1/ Ông Phạm Xuân G, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
- 2/ Bà Huỳnh Mỹ P1, sinh năm 1980 ((Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số B, Tháp V, Chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện nguyên đơn bà Võ Quốc P trình bày:
- Ngày 19/7/2022, ông Phạm Xuân G và bà Huỳnh Mỹ P1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: 0020/2022/610-TD-CV để vay vốn tại Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C1 – PGD Ninh Kiều, cụ thể như sau:
- + Số tiền vay: 30.000.000.000 đồng (Ba mươi tỷ đồng);
- + Thời hạn vay: 300 tháng (Từ ngày 19/07/2022 – đến ngày 19/07/2047);
- + Lãi suất: 11,99%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng TMCP N1 quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính theo công thức: Lãi suất điều chỉnh (=) lãi suất cơ sở chuẩn dài hạn (%/năm) cộng (+) 4,3%/năm (Trong đó, lãi suất cơ sở chuẩn do Ngân hàng TMCP N1 công bố hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh); Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: Trường hợp không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định phải chịu lãi chậm trả 10%/năm tính trên dư lãi chậm trả tương ứng với thời hạn chậm trả.
- + Mục đích vay: Mua/nhận chuyển nhượng nhà đất
- Ngoài ra, ngày 19/9/2022 ông Phạm Xuân G và bà Huỳnh Mỹ P1 tiếp tục ký kết Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV để đề nghị cấp thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C1 - PGD N, cụ thể như sau:
- + Hạn mức thẻ: 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng);
- + Thời hạn sử dụng: 60 tháng (Từ ngày 02/12/2022 – ngày 31/12/2027);
- + Lãi suất: 30%/năm.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên giữa Ngân hàng TMCP N1 với ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0013/2022/610-TD-BĐ ngày 19/7/2022 về việc thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 9.455,9m², thửa 342, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại địa chỉ phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DC 542645 (Số vào sổ cấp GCN: CS14887) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 15/12/2021 chỉnh lý sang tên ông Phạm Xuân G ngày 26/01/2022.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông G, bà P1 đã thanh toán tổng số tiền là 7.288.369.110 đồng, cụ thể như sau:
- - Theo HĐTD số 0020/2022/610-TD-CV: 7.161.206.498 đồng.
- + Đã thanh toán gốc: 1.700.000.000 đồng;
- + Đã thanh toán lãi trong hạn: 5.458.722.904 đồng;
- + Đã thanh toán lãi phạt: 2.483.594 đồng.
- - Theo HĐTD số 0127/2022/610-CV: 127.162.612 đồng.
- + Đã thanh toán gốc: 64.529.648 đồng;
- + Đã thanh toán lãi: 62.632.964 đồng;
Kể từ kỳ thanh toán ngày 01/01/2024, ông Phạm Xuân G và bà Huỳnh Mỹ P1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký. Ngày chuyển nợ quá hạn là ngày 11/01/2024 theo Thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 12/01/2024 của Ngân hàng TMCP N1.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như sau:
- Buộc ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: 0020/2022/610-TD-CV ký ngày 19/7/2022, tổng số tiền tạm tính đến ngày 01/02/2024 là: 28.603.019.995 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc: 28.300.000.000 đồng;
- + Nợ lãi: 303.019.995 đồng (Lãi trong hạn 298.889.167 đồng; lãi quá hạn 1.592.466 đồng và lãi chậm trả 2.538.362 đồng).
- Buộc ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV ký ngày 19/9/2022, tạm tính đến ngày 10/07/2024 là 282.195.476 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc: 235.440.492 đồng;
- + Nợ lãi: 46.754.984 đồng;
Trong thời gian chưa thanh toán đủ số nợ vay, ông G, bà P1 tiếp tục chịu lãi phát sinh theo mức các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Trong trường hợp ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N1 thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0013/2022/610-TD-BĐ ngày 19/7/2022, cụ thể là quyền sử dụng đất diện tích 9.455,9m², thửa 342, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại địa chỉ phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DC 542645 (Số vào sổ cấp GCN: CS14887) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 15/12/2021 chỉnh lý sang tên ông Phạm Xuân G ngày 26/01/2022.
* Bị đơn ông Phạm Xuân G và bà Huỳnh Mỹ P1:
Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không rõ ý kiến. Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Võ Quốc P, bà Trần Huỳnh L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 buộc ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay như sau:
- + Theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022, tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/4/2025 là 33.772.233.735 đồng (Trong đó, nợ gốc 28.300.000.000 đồng; lãi trong hạn 4.943.400.950 đồng; lãi quá hạn 208.096.439 đồng; lãi chậm trả 320.736.346 đồng).
- + Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV ngày 19/9/2022 tạm tính đến ngày 14/04/2025 là 367.935.395 đồng (Trong đó, nợ gốc 235.440.492 đồng; nợ lãi là 132.494.903 đồng).
Đồng thời, kể từ ngày 14/4/2025 ông G, bà P1 vẫn phải chịu lãi phát sinh theo mức các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N1, đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0013/2022/610-TD-BĐ ngày 19/7/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, việc xác định tư cách tố tụng là phù hợp. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn vi phạm nghĩa vụ có mặt theo triệu tập của Tòa án, đồng thời do Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị đơn ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 tiền nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022 với tổng số tiền là 33.772.233.735 đồng (Trong đó, nợ gốc 28.300.000.000 đồng; lãi trong hạn 4.943.400.950 đồng; lãi quá hạn 208.096.439 đồng; lãi chậm trả lãi trong hạn 320.736.346 đồng) và theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV ngày 19/9/2022 với tổng số tiền là 367.935.395 đồng (Trong đó, nợ gốc 235.440.492 đồng; nợ lãi là 132.494.903 đồng). Đồng thời, ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 tiếp tục chịu lãi từ ngày 15/4/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0013/2022/610-TD-BĐ ngày 19/7/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]
Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu buộc ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký, trường hợp không trả được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]
Theo Công văn số: 6531/XNC-Đ1 ngày 02/8/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh - Công an Thành phố H có nội dung: “Ông Phạm Xuân G, sinh ngày 29/11/1979... Bà Huỳnh Mỹ P1, sinh ngày 21/08/1980... xuất, nhập cảnh Việt Nam nhiều lần. Cụ thể, lần nhập cảnh gần nhất vào ngày 04/11/2022 và xuất cảnh gần nhất vào ngày 28/12/2023 qua cửa khẩu quốc tế T. Hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Hiện nay, Cục Q – Bộ C2 đã bỏ tờ khai khi khách xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế nên Phòng Q không thể xác định mục đích và nơi đến của đương sự”. Ngoài ra, theo kết quả xác minh tại Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/7/2024 có nội dung: “Ông Phạm Xuân G và bà Huỳnh Mỹ P1 có đăng ký thường trú tại địa chỉ số B, Tháp V, Chung cư S, số B, đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo cho ông Phạm Văn C, bà Nguyễn Thị Mỹ N (cha mẹ ruột ông Phạm Xuân G) yêu cầu cung cấp địa chỉ của ông G, bà P1 ở nước ngoài nhưng không nhận được kết quả phúc đáp. Xét ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 thay đổi nơi cư trú (đi nước ngoài) nhưng không thông báo cho Ngân hàng TMCP N1 biết về nơi cư trú, làm việc mới nên được coi là cố tình giấu địa chỉ. Do đó, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022; Giấy nhận nợ số 01/GNN-0020/2022/610-TD-CV và Giấy nhận nợ số 02/GNN-0020/2022/610-TD-CV cùng ngày 19/7/2022 (BL 64-79) thể hiện nội dung giữa Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C1, phòng G1 với ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 có xác lập giao dịch về tín dụng với tổng số tiền cho vay là 30.000.000.000 đồng, thời hạn vay 300 tháng, mục đích sử dụng vốn vay Mua/nhận chuyển nhượng nhà đất, lãi suất cho vay trong hạn là 11,99%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã không thanh toán được nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng nên quá hạn từ ngày 11/01/2024. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả tổng số tiền nợ vay tạm tính đến ngày 14/4/2025 là 33.772.233.735 đồng (Trong đó, nợ gốc 28.300.000.000 đồng; lãi trong hạn 4.943.400.950 đồng; lãi quá hạn 208.096.439 đồng; lãi chậm trả lãi trong hạn 320.736.346 đồng) và tiếp tục thanh toán lãi suất phát sinh từ ngày 15/4/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.2] Đối với yêu cầu thanh toán nợ vay theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV ngày 19/9/2022.
Bên cạnh, việc ký Hợp đồng tín dụng số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022, ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 còn mở thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV ngày 19/9/2022 tại Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C1, phòng G1 với hạn mức vay là 250.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn sử dụng 60 tháng (từ ngày 02/12/2022 đến ngày 31/12/2027), lãi suất 30%/năm. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông G, bà P1 đã sử dụng dịch vụ thanh toán ghi nợ với tổng số tiền nợ gốc là 235.440.492 đồng và đã quá hạn thanh toán.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu buộc ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 14/4/2025 là 367.935.395 đồng (Trong đó, nợ gốc 235.440.492 đồng; nợ lãi là 132.494.903 đồng) là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 1 Điều 5, Điều 13 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N2.
[3.2] Đối với yêu cầu phải mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay.
Căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0013/2022/610-TD-BĐ ngày 19/7/2022 thể hiện nội dung ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 sử dụng tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 9.455,9m², thửa 342, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại địa chỉ phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DC 542645 (Số vào sổ cấp GCN: CS14887) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 15/12/2021 chỉnh lý sang tên ông Phạm Xuân G ngày 26/01/2022 để bảo lãnh cho Hợp đồng tín dụng số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022 và các hợp đồng tín dụng khác giữa ông G, bà P1 ký với Ngân hàng TMCP N1 với dư nợ gốc bảo lãnh tối đa là 30.000.000.000 đồng (Ba mươi tỷ đồng).
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/11/2024 của Tòa án (BL 191, 192) thể hiện quyền sử dụng đất thế chấp vẫn giữ nguyên trạng theo hợp đồng thế chấp. Ngoài ra, sau khi ký hợp đồng thế chấp Ngân hàng đã tiến hành đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với theo quy định tại Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 303, khoản 1 Điều 317, Điều 319, khoản 7 Điều 323, Điều 335, Điều 336, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu với số tiền là 5.000.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền này.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị đơn ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 303, khoản 1 Điều 317, Điều 319, khoản 7 Điều 323, Điều 335, Điều 336, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1.
- Buộc bị đơn ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 14/4/2025 đối với các hợp đồng tín dụng như sau:
- + Hợp đồng tín dụng số: 0020/2022/610-TD-CV ngày 19/7/2022 với tổng số tiền là 33.772.233.735 đồng (Trong đó, nợ gốc 28.300.000.000 đồng; lãi trong hạn 4.943.400.950 đồng; lãi quá hạn 208.096.439 đồng; lãi chậm trả lãi trong hạn 320.736.346 đồng).
- + Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số: 0127/2022/610-CV ngày 19/9/2022 với tổng số tiền là 367.935.395 đồng (Trong đó, nợ gốc 235.440.492 đồng; nợ lãi là 132.494.903 đồng).
Đồng thời, ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 tiếp tục chịu lãi từ ngày 15/4/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất theo các hợp đồng tín dụng đã ký.
- Trong trường hợp ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ vay nêu trên thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 9.455,9m², thửa 342, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại địa chỉ phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DC 542645 (Số vào sổ cấp GCN: CS14887) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 15/12/2021 chỉnh lý sang tên ông Phạm Xuân G ngày 26/01/2022 để thu hồi nợ.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 có nghĩa vụ trả lại Ngân hàng TMCP N1 số tiền này.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Phạm Xuân G, bà Huỳnh Mỹ P1 phải chịu 142.140.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 được nhận lại 68.301.000 đồng (Sáu mươi tám triệu, ba trăm lẽ một nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006627 ngày 01/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long và 7.054.000 đồng (Bảy triệu, không trăm năm mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0005977 ngày 02/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Hứng |
Bản án số 70/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 70/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
