Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/DS-PT

Ngày: 11/3/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Thẩm phán: Bà Lê Kim Đó

Ông Nguyễn Công Sự

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường 04 – Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐPT-DS ngày 17 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

- Đồng nguyên đơn: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1954.

Địa chỉ: tổ D, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tuấn H, sinh năm: 1984 (có mặt).

Địa chỉ: tổ D, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (văn bản ủy quyền chứng thực ngày 30/6/2020)

- Bị đơn: ông Hà Thanh H1, sinh năm 1985.

Địa chỉ: khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị B, sinh năm 1963.

Địa chỉ: tổ D, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm,

Đnguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đỗ Thị T, do ông Nguyễn Tuấn H đại diện theo ủy quyền trình bày: Vợ chồng ông S và bà T quản lý sử dụng diện tích đất thuộc các thửa tại xã L, huyện Đ gồm các thửa sau:

Thửa 110, tờ 27 có diện tích là 23.280m² (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE.323280 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/6/2006)

Thửa 121 tờ 27 có diện tích là 2.683m² (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE.323281 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/6/2006);

Thửa 125 tờ bản đồ số 27, có diện tích là 9.318m² (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE.323282 do UBND huyện Đ cấp ngày 30/6/2006).

Quá trình sử dụng đất, UBND huyện Đ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE.323282 ngày 30/6/2006 đối với thửa 125 tờ bản đồ số 27 do cấp nhầm diện tích đất và cấp lại 5.141m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 035571 ngày 20/3/2020 (Phần diện tích trên có 644m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình giao thông, không được cấp giấy).

Năm 1999, ông Hà Thanh A và bà Đỗ Thị B là chủ sử dụng các thửa đất số 238, 241 tờ 27 xã L đã lấn chiếm một phần diện tích đất của vợ chồng ông S. Năm 2001, UBND xã L, huyện Đ đã thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai và các bên đã cắm ranh mốc đất để UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định cho gia đình ông S và gia đình bà B. Tuy nhiên, đến năm 2018, các bên không thỏa thuận được hàng ranh giới giữa các thửa đất, nên ngày 08/3/2018, tổ hòa giải của ấp đã thực hiện việc cắm mốc ranh giới từ mép đường Quốc lộ 1A kéo dài xuống ranh giới các thửa đất tranh chấp là 25m (mốc trụ bê tông là cây bạch đàn). Năm 2020, ông Hà Thanh H1 (con trai bà B và ông A) sau khi được tặng cho quyền sử dụng thửa đất tiếp tục xây dựng hàng rào kiên cố, đào ao và cắm cọc bê tông qua phần đất của gia đình ông để lấn chiếm đất của gia đình ông S khoảng 185m². Ông yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Thanh H1 và bà Đỗ Thị B hoàn trả phần diện tích đất lấn chiếm.

Bị đơn là ông Hà Thanh H1 trình bày:

Ông Hà Thanh H1 xác định quyền sử dụng đất thuộc thửa 238 tờ 27 diện tích là 1.818m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ vào sổ cấp giấy số CS 02316 ngày 07/5/2019 và thửa 241, tờ 27 diện tích 1.504m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ vào sổ cấp giấy số CS 02317 ngày 07/5/2019, có nguồn gốc là được bà Đỗ Thị Bắc T1 cho ông quyền sử dụng đất.

Các thửa đất trên được tách ra từ thửa 115, tờ 27 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 173649 ngày 30/6/2006) và thửa 122, tờ 27 xã L (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 173648 ngày 30/6/2006), đã được gia đình ông sử dụng ổn định theo các cột mốc trụ bê tông do gia đình ông S dựng lên theo Thông báo kết quả hòa giải số 93/TB-UB ngày 11/10/2002.

Đối với các biên bản lập 08/3/2018, biên bản xác minh, kiểm tra hiện trạng mốc ranh giới ngày 18/3/2020 là không hợp pháp, bị sửa chữa về số liệu nên không có giá trị pháp lý. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn cung cấp 05 ảnh chụp và bản sao Thông báo kết quả hòa giải số 93/TB-UB ngày 11/10/2002, ngoài ra không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì khác.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị B trình bày:

Gia đình bà B sử dụng đất theo đúng ranh mốc của biên bản hòa giải ngày 19/4/2001 và thông báo kết quả hòa giải theo đơn khiếu nại của ông Hà Thanh A ngày 11/10/2002. Giữa 02 gia đình đã cắm ranh mốc đất theo đúng biên bản hòa giải và có sự chứng kiến của UBND xã L. Không đồng ý các biên bản xác minh ngày 18/3/2020 và biên bản hòa giải ngày 30/3/2020.

Bà B thống nhất lời trình bày của anh H1, không ý kiến bổ sung và không cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ.

Tại bản án số Dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 19/10/2023; Quyết định sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm số 41/2023/QĐ-SCBSBA ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, đã Quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 262 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các điều 166, 174, 175, 176, 186, 246 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 166, 170, 171 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S- bà Đỗ Thị T.
  2. Buộc ông Hà Thanh H1, bà Đỗ Thị B hoàn trả diện tích đất là 186m² thuộc các mốc tọa độ (8, 7, 6, 5, 4, 3, 16, 17, 7, -8) theo bản vẽ hiện trạng đất tranh chấp số 2977 ngày 03/11/2022, cụ thể:
    • Thửa 125 tờ 27 gồm các mốc: 17, 8, 7, 6, 17: 40m²;
    • Thửa 121 tờ 27 gồm các mốc: 16, 17, 6, 5, 16: 80,1m²;
    • Thửa 110 tờ 27 gồm các mốc: 3, 16, 5, 4, 3: 65.9m².

    Buộc ông Hà Thanh H1, bà Đỗ Thị B phải di dời, tháo dỡ vật kiến trúc, các công trình xây dựng kiên cố khác nằm trên phần diện tích đất hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S- bà Đỗ Thị T.

  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hà Thanh H1 hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S- bà Đỗ Thị T các khoản chi phí tố tụng là 24.370.740 đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Hà Thanh H1 nộp 18.510.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra án còn tuyên quyền kháng cáo, trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/10/2023 bị đơn ông Hà Thanh H1 kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm với lý do bản án đã tuyên chưa xem xét đầy đủ chứng cứ, sự thật khách quan; trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán chưa tuân theo đúng thủ tục tố tụng.

Quan điểm của Viện Kiểm Sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử và tại phiên tòa. Các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, kháng cáo hợp pháp nên được xem xét theo thủ tục chung.

Quan điểm đối với nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục kháng cáo:

    Kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định nên được thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm

    Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

  2. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự cấp sơ thẩm xác định là đúng và đầy đủ.
  3. Về nội dung kháng cáo:

    Ông Hà Thanh H1 kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm với lý do Biên bản Hòa giải ngày 19/4/2001 được xác định là biên bản hòa giải thành dưới sự chứng kiến đủ các thành phần bao gồm Phó chủ tịch UBND xã, Chủ tịch Ủy ban mặt trận tổ quốc xã, đại diện Hội nông dân, Hội phụ nữ xã và có mộc dấu xác nhận của UBND xã L. Ông S đã đăng ký kê khai xác định ranh mốc trên cơ sở của biên bản hòa giải ngày 19/4/2001. Biên bản Hòa giải ngày 08/3/2018 do gia đình ông S cung cấp là không hợp pháp do sai thành phần hòa giải. Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh mốc ngày 18/3/2020 không có mặt ông H1, không có xác nhận của UBND xã L, biên bản bị sửa đổi nên không có giá trị pháp lý. Biên Bản Hòa giải ngày 30/3/2020 không đúng quy định pháp luật do có sự chồng chéo rằng đã hòa giải thành năm 2001 lại tiếp tục hòa giải năm 2020. Quá trình sử dụng gia đình ông S đã cắm mốc xây rào lưới B40 vẫn còn và gia đình ông H1 đã xây đúng mép rào tồn tại hơn 20 năm.

    Xét thấy, Căn cứ bản đo vẽ hiện trạng vị trí của thửa đất số 2977/2022 ngày 03/11/2022 của Công ty TNHH T2 thì phần đất các bên tranh chấp được giới hạn bởi các mốc (8, 7, 6, 5, 4, 3, 16, 17, 7, -8) có tổng diện tích là 186 m², là thuộc thửa các thửa 110, 121, 125 tờ bản đồ số 27, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Các bên phát sinh tranh chấp từ những năm 1999 – 2000 và đã được địa phương nhiều lần hòa giải. Đến

ngày 19/4/2001, UBND xã L lập biên bản hòa giải thành giữa các bên, tuy nhiên đến năm 2018, khi bà B cho san lấp mặt bằng thì các bên tiếp tục phát sinh tranh chấp. Quá trình hòa giải năm 2001 và năm 2008, kết quả hòa giải chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý biến động ranh giới thửa đất theo quy định của Luật Đất đai. Bị đơn xác định hàng rào đá chẻ xây dựng theo đúng cột mốc do các bên cắm ranh giới vào năm 2001, tuy nhiên nguyên đơn phản đối khi bị đơn xây dựng hàng rào. Căn cứ kết quả chồng ghép bản đồ cho thấy, phần đất các bên đang tranh chấp thuộc thửa các thửa 110, 121, 125 tờ bản đồ số 27 của ông S và bà T, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định. Từ những cơ sở trên cấp sơ thẩm xác định bị đơn lấn chiếm phần đất của nguyên đơn, đồng thời tuyên buộc bị đơn phải di dời, tháo dỡ vật kiến trúc, các công trình xây dựng kiên cố khác nằm trên phần diện tích đất tranh chấp để hoàn trả cho nguyên đơn là có cơ sở.

Tại cấp phúc thẩm bà Đỗ Thị B xác định bà không tham dự hay ký biên bản làm việc ngày 18/3/2020 nên không thừa nhận biên bản này và đề nghị giám định chữ ký chử viết. Tòa án đã tiến hành trưng cầu Viện khoa học hình sự tiến hành giám định với kết quả chữ viết và chữ ký trong biên bản do bà B ký và viết ra.

Bị đơn kháng cáo đưa ra các ý kiến đã được Tòa cấp sơ thẩm xem xét, tại cấp phúc thẩm bị đơn không đưa ra các ý kiến hay tài liệu chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông H1 phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.
  2. Về chi phí giám định chữ viết, chữ ký tại cấp phúc thẩm bà Đỗ Thị B phải chịu số tiền 8.061.000₫ (Tám triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) (đã nộp xong).
  3. Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai: Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 01 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hà Thanh H1.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 262 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các điều 166, 174, 175, 176, 186, 246 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 166, 170, 171 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S- bà Đỗ Thị T.
  2. Buộc ông Hà Thanh H1, bà Đỗ Thị B hoàn trả diện tích đất là 186m² thuộc các mốc tọa độ (8, 7, 6, 5, 4, 3, 16, 17, 7, -8) theo bản vẽ hiện trạng đất tranh chấp số 2977 ngày 03/11/2022, cụ thể:
    • Thửa 125 tờ 27 gồm các mốc: 17, 8, 7, 6, 17: 40m²;
    • Thửa 121 tờ 27 gồm các mốc: 16, 17, 6, 5, 16: 80,1m²;
    • Thửa 110 tờ 27 gồm các mốc: 3, 16, 5, 4, 3: 65.9m².

    Buộc ông Hà Thanh H1, bà Đỗ Thị B phải di dời, tháo dỡ vật kiến trúc, các công trình xây dựng kiên cố khác nằm trên phần diện tích đất hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S- bà Đỗ Thị T.

  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hà Thanh H1 hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S- bà Đỗ Thị T các khoản chi phí tố tụng là 24.370.740 đồng.
  4. Về chi phí giám định chữ viết, chữ ký tại cấp phúc thẩm bà Đỗ Thị B phải chịu số tiền 8.061.000đ (Tám triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) (đã nộp xong).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Hà Thanh H1 nộp 18.500.000₫ (Mười tám triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về án phí phúc thẩm: Ông Hà Thanh H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự phúc thẩm nhưng được tính trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 004747 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Định Quán. Ông H1 đã nộp đủ án phí Dân sự phúc thẩm theo quy định.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.Đồng Nai;
  • - Cục THADS T.Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS H.Định Quán;
  • - TAND H.Định Quán;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 70/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger