Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/DS-PT

Ngày: 10-4-2025

V/v tranh chấp đất đai

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Lương Thanh Chín;
  2. Ông Phạm Thái Bình;

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Trí - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp đất đai”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2025/QĐPT-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị T, sinh năm 1969; có mặt
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Ông Đoàn T1, sinh năm 1973; có mặt
  4. Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Trương Văn V, sinh năm 1966; vắng mặt
    • Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

    • 3.2. Ông Mai C, sinh năm 1972; vắng mặt
    • 3.3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1972; vắng mặt

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông V, ông C, bà H: Bà Mai Thị T, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. có mặt

  • 3.4. Bà Phạm Thị K, sinh năm 1939; vắng mặt
  • 3.5. Bà Phan Thị L, sinh năm 1973; có mặt

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  • 3.6. Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 (Chi nhánh B);

Địa chỉ: Số B N, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T2, sinh năm 1976; Chức vụ: Trưởng phòng G. có mặt

Người kháng cáo: Ông Đoàn T1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn trình bày:

Trước năm 1974, chế độ cũ cấp cho ông Mai N là anh ruột của bà Mai Thị T thửa đất có diện tích khoảng 3.000m² (ngang 50m, dài 60m) để sinh sống và sản xuất nông nghiệp. Sau khi được cấp đất, ông N sử dụng để làm nhà ở và trồng cây điều.

Sau khi giải phóng, toàn bộ diện tích đất được đưa vào hợp tác xã, sau đó hợp tác xã giao lại cho bà Nguyễn Thị T3 là mẹ ruột của bà Mai Thị T. Sử dụng một thời gian, bà T3 để lại cho con ruột là ông Mai C sử dụng. Đến năm 2005, vợ chồng ông C, bà H có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên.

Ngày 05/01/2007, Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 164385 tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.249m² cho hộ ông Mai C và bà Trần Thị H. Năm 2017, gia đình ông C chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho chị ruột là bà Mai Thị T và được Chi nhánh Văn phòng Đ đăng ký chuyển quyền ngày 01/3/2017. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà T là người trực tiếp quản lý thửa đất trên, ranh giới thửa đất của bà T với thửa đất của ông Đoàn T1 rõ ràng, được xác định bằng cây sầu đâu và cây dâu tằm trồng dọc theo ranh đất.

Cuối năm 2019, bà T phát hiện ông Đoàn T1 tự chặt phá hàng rào và trồng trụ bê tông lấn sang thửa đất của bà phần đất của bà T có chiều ngang theo cạnh phía nam khoảng 10m, diện tích lấn chiếm khoảng 670m² để trồng cây keo tràm. Ngay sau khi phát hiện, bà T trực tiếp liên hệ và yêu cầu ông T1 phối hợp giải quyết nhằm trả lại phần đất lấn chiếm cho bà T nhưng ông T1 không hợp tác.

Do vậy, bà Mai Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đoàn T1 phải trả lại cho bà T diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc thực tế là 560,8m², thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.249m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 164385. Đối với diện tích đất tranh chấp 75,2m² vừa thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T, vừa thuộc giấy chứng nhận cấp cho ông Đoàn T1 thì bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Đoàn T1 phải trả cho bà diện tích 485,6m² đất tranh chấp, thuộc Giấy chứng nhận số AG 164385 cấp cho hộ ông Mai C, chuyển nhượng hợp pháp cho bà; đối với diện tích đất 75,2m² bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn trình bày:

Năm 1974, gia đình ông Đoàn T1 có khai hoang và canh tác một khu đất có diện tích khoảng 2.730m², tọa lạc tại thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vào năm 2000, mẹ của ông Đoàn T1 là bà Phạm Thị K đã tặng cho anh trai của ông T1 là ông Đoàn S một phần của khu đất trên với diện tích 780m² (ngang 12m, dài 65m). Năm 2002, thì đo đạc giải thửa thành hai thửa đất, gồm: Thửa số 54, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.950m² do bà Phạm Thị K sử dụng và thửa số 53, tờ bản đồ số 08, diện tích 511m² do ông Đoàn S sử dụng.

Đến năm 2005, thửa số 54, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.950m² của bà Phạm Thị K được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 013884 ngày 08/8/2005, phần đất còn lại đã tặng cho ông Đoàn S trước đó thì chưa được cấp giấy chứng nhận.

Ngày 23/11/2009, bà Phạm Thị K làm hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất số AC 013884 ngày 08/8/2005 đối với thửa số 54, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.950m² cho vợ chồng ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L, được Văn phòng Đ đăng ký chuyển quyền vào ngày 09/12/2009. Còn thửa số 53, tờ bản đồ số 08, diện tích 511m² chưa được cấp giấy chứng nhận của ông Đoàn S thì do ông S đang sinh sống và làm ăn ở xa nên cũng giao cho ông T1 quản lý và sử dụng. Vì quan hệ anh em ruột nên việc giao đất để quản lý, sử dụng bằng lời nói, không có giấy tờ gì. Tổng diện tích đất hiện ông T1 đang quản lý, sử dụng khoảng 2.500m² được ông lập ranh giới, mốc giới và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay mà không có ai tranh chấp hay khiếu nại gì.

Bà Mai Thị T yêu cầu ông T1 trả lại phần đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc thực tế 560,8m² là không có cơ sở và thiếu căn cứ, vì phần đất này hoàn toàn nằm trọn trong thửa đất số 54, tờ bản đồ số 08 đã được mẹ ông và ông khai hoang, sử dụng ổn định từ năm 1975 đến nay, được đo đạc giải thửa từ năm 2002 và được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 013884 ngày 08/8/2005.

Do vậy, ông Đoàn T1 đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T. Đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 164385.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn V, do người đại diện hợp pháp là bà Mai Thị T trình bày: Ông Trương Văn V thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn, theo đó, Quyền sử dụng đất số AG 164385 là tài sản riêng của bà T trong thời kỳ hôn nhân do bà sử dụng tài sản riêng của bà để thanh toán tiền đất cho gia đình ông Mai C, bà Trần Thị H, không liên quan đến ông. Do đó, ông đề nghị Tòa án buộc ông Đoàn T1 trả lại diện tích đất lấn chiếm nêu trên cho cá nhân bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai C và bà Trần Thị H, do người đại diện hợp pháp là bà Mai Thị T trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất; đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải trả cho bà T toàn bộ diện tích đất lấn chiếm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị K trình bày: Bà Phạm Thị K thống nhất với lời trình bày của ông Đoàn Tý . Bà cho rằng diện tích đất tranh chấp là do bà khai hoang năm 1974; sau đó bà đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2009, bà tặng cho diện tích đất trên cho bà ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L sử dụng. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L trình bày: Bà Phan Thị L thống nhất với lời trình của ông Đoàn Tý . Diện tích đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng bà và ông T1, do mẹ ruột là bà Phạm Thị K tặng cho. Do đó, bà L không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1, do người đại diện hợp pháp là ông Phạm Anh T2 trình bày: Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 164385 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2007, cập nhật biến động ngày 01/3/2017 đúng quy định của pháp luật; việc bà Mai Thị T, ông Trương Văn V thế chấp quyền sử dụng đất trên cho Ngân hàng đúng quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ngân hàng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 229, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1, Điều 117, Điều 119, Điều 164 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, Điều 100, khoản 5 Điều 166, Điều 167, Điều 202 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 4 của Thông tư số: 24/2014/TT-BTNM của Bộ trưởng

Bộ T4; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T về việc “Tranh chấp đất đai” với ông Đoàn Tý .

  1. Buộc ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L phải di dời hàng rào kẽm gai với 25 trụ bê tông và trả lại cho bà Mai Thị T 485,6m² đất, thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận; được giới hạn bởi các điểm: 2, 3, 11, 8, 9, 2; theo Mảnh trích đo hiện trạng đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ1 vẽ, ký duyệt ngày 13/9/2022. (Kèm theo bản án).
  2. Bà Mai Thị T phải có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L phải thu hoạch toàn bộ số cây mì trên diện tích đất 485,6m² trước tháng 6/2025 để trả lại đất cho bà Mai Thị T.
  4. Bà Mai Thị T được quyền sở hữu toàn bộ số cây keo tràm trên diện tích 485,6m² đất.
  5. Bà Mai Thị T phải hoàn trả trị giá cây keo tràm trên đất với số tiền 1.458.000 đồng và thanh toán chi phí di dời hàng rào với số tiền 3.280.000 đồng cho ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L. Tổng cộng là 4.738.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất do chậm thi hành án, án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật

Ngày 08/10/2024, ông Đoàn T1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
  • Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đơn kháng cáo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Tý . Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân.

Áp dụng Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, Điều 100, khoản 5 Điều 166, Điều 202 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị T về việc tranh chấp đất đai” với ông Đoàn Tý .

  1. Buộc ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L phải di dời hàng rào kẽm gai với 25 trụ bê tông và trả lại cho bà Mai Thị T diện tích 485,6m² đất, thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận; được giới hạn bởi các điểm: 2, 3, 11, 8, 9, 2; theo Mảnh trích đo hiện trạng đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ1 vẽ, ký duyệt ngày 13/9/2022 (Kèm theo bản án).
  2. Bà Mai Thị T có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai, điều chỉnh diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hiện trạng sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L phải thu hoạch toàn bộ số cây mì trên diện tích đất 485,6m² trước tháng 6 năm 2025 để trả lại đất cho bà Mai Thị T.
  4. Bà Mai Thị T được quyền sở hữu toàn bộ số cây keo tràm trên diện tích 485,6m² đất.
  5. Bà Mai Thị T phải hoàn trả trị giá cây keo tràm trên đất với số tiền 1.458.000 đồng và thanh toán chi phí di dời hàng rào với số tiền 3.280.000 đồng cho ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L. Tổng cộng là 4.738.000 đồng.
  6. Về chi phí tố tụng: Ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L phải chịu 10.354.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông T1 và bà L phải hoàn trả số tiền trên cho bà Mai Thị T.
  7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  8. Về án phí:
  • - Ông Đoàn T1 và bà Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Hoàn trả cho bà Mai Thị T số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007170 ngày 11/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
  • - Ông Đoàn T1 phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0010910 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân. Ông T1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/4/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND huyện Hàm Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đức Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đất đai

  • Số bản án: 70/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: V/v tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger