TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2025/DS-PT
Ngày: 03/3/2025
“V/v tranh chấp QSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: ông Phạm Văn Bình, ông Nguyễn Quyến
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03/3/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 282/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 366/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1952. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: B đường C, khu dân cư T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 11/6/2024 tại Văn phòng C)
Bị đơn: Ông Ký Thanh T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền:
- Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1987. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Theo văn bản ủy quyền ngày 02/10/2023. - Bà Ký Thị Thanh L, sinh năm 1982. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2022.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn L1, sinh năm 1951. (Có mặt)
- Ông Tạ Hoài T1, sinh năm 1978. (Có mặt)
Ủy quyền cho bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: B, đường C, khu dân cư T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 11/6/2024 tại Văn phòng C). - Bà Trần Thị L2, sinh năm 1950. (Có mặt)
- Bà Ký Thị Thanh L, sinh năm 1982. (Có mặt)
- Bà Phan Thị Bích T2, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
- Ông Ký Thanh X, sinh năm 1943. (Xin xét xử vắng mặt)
- Bà Lê Thị T3, sinh năm 1977. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: C trú tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người làm chứng:
- Ông Huỳnh Văn L3, sinh năm 1948. (Vắng mặt)
- Ông Trần Văn T4, sinh năm 1946. ( Vắng mặt)
- Ông Đinh Ngọc T5, sinh năm 1962. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Cùng trú tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Ngô Văn P, ông Tạ Hoài T1.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Đại diện theo uỷ quyền của phía nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất là ông Ngô Văn P nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn L1 vào năm 1980 không nhớ giá chuyển nhượng cũng như không có làm giấy tờ gì. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông P sử dụng ổn định trên phần diện tích này đến năm 2013 ông P về Đồng Tháp và tặng cho lại ông là Tạ Hoài T1 thửa đất này. Ông Ngô Văn P xác định họ tên Ngô Văn P1 trong sổ mục kê với Ngô Văn P là một người. Vợ của ông Ngô Văn P là Nguyễn Thị B đang sinh sống ở Đồng Tháp. Ông P xác định thửa đất này không phải là tài sản chung vợ chồng của ông P và bà B nên không yêu cầu Tòa án đưa bà B vào tham gia tố tụng. Ông P xác định đã tặng cho thửa đất này cho ông là Tạ Hoài T1 và giao cho ông T1 toàn quyền quyết định giải quyết tranh chấp với ông Ký Thanh T và được đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa 785. Do ông Phà T6 cho toàn bộ thửa đất này cho ông Tạ Hoài T1 nên ông P yêu cầu ông Ký Thanh T phải di dời nhà để trả lại diện tích lấn chiếm 1600 m² đất ONT, tờ bản đồ số 11 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo uỷ quyền của phía bị đơn trình bày: Phần đất đang tranh chấp trước đây là của ông Trần Văn T7 (cha vợ của ông Ký Thanh X) sử dụng từ trước năm 1975, có những hộ lân cận biết việc này như ông L1, ông T4 và ông T5. Sau này có cho ông Lê Văn L1 ở nhờ diện tích khoảng 1.600 m² đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T. Sau đó, ông Tư T8 cho lại ông Ký Thanh X, do cha con nên không có làm giấy tờ gì. Đến năm 2000 ông Xuân T9 cho lại ông Ký Thanh T, ông T cất nhà và sử dụng diện tích khoảng 714,2 m² cho đến nay. Nay phía bị đơn có yêu cầu phản tố cho ông Ký Thanh T ổn định và sử dụng diện tích theo đo đạc thực tế là 714,2 m² đất ONT, thuộc thửa 785 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Ông Tạ Hoài T1 xác định có yêu cầu độc lập để đứng tên phần đất có diện tích là 1.481,6 m² đất ONT, tờ bản đồ số 11 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Ông Lê Văn L1 xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án để tranh chấp gì liên quan đến vụ án này. Ông xác định trước đây có chuyển nhượng phần đất đang tranh chấp hiện nay cho ông Ngô Văn P. Do lâu quá nên ông không nhớ cụ thể chuyển nhượng vào năm nào với số tiền là bao nhiêu, không có làm giấy tờ gì. Ông cũng không có giấy tờ nào chứng minh đất này là của ông để chuyển nhượng.
Bà Trần Thị L2 xác định bà và ông Ký Thanh X không có yêu cầu độc lập trong vụ án này mà xác định đã tặng cho phần đất đang tranh chấp cho ông T và ông T quyết định tranh chấp với ông P.
Bà Ký Thị Thanh L xác định không trình bày bổ sung gì thêm và không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Bà Lê Thị T3 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có lời khai: Về nguồn gốc đất tranh chấp trước đây ông Ngô Văn P có mua đất của ông Lê Văn L1 tờ bản đồ số 11, thửa 785, diện tích 1.600 m² đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ là sự thật. Nay ông P về sinh sống tại ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Từ năm ông P đi thì giao toàn quyền sử dụng cho chồng của bà là Tạ Hoài T1. Nay chồng bà là ông T1 tranh chấp với ông Ký Thanh T thì ông T1 có toàn quyền quyết định trước Tòa án về việc tranh chấp quyền sử dụng đất tờ bản đồ số 11, thửa 785, diện tích 1.600 m² ONT.
Ông Ký Thanh X có lời khai: Nguồn gốc thửa đất số 785, tờ bản đồ số 11, diện tích 1600 m², loại đất ONT, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ trước năm 1975 do ông Lê Văn R khai phá, lúc đó ông R thiếu nợ cha vợ ông là Trần Văn T7 nên giao phần đất này cho cha vợ ông quản lý, sử dụng khi nào trả xong nợ thì sẽ trả lại. Sau đó, cha vợ ông cho lại ông quản lý, sử dụng. Đến khoảng năm 1980 ông Lê Văn L1 là con ông R có hỏi mượn ông phần đất này để canh tác. Do lúc đó ông L1 khó khăn nên ông đồng ý cho ông L1 mượn để làm lúa mùa, chỉ làm mùa nước, mùa khô thì trả lại để ông làm sân phơi lúa. Ông L1 làm được khoảng 02 mùa thì trả lại cho ông không làm nữa, do lúc đó ông L1 có đất ở nơi khác để canh tác. Thời gian này ông sử dụng phần đất này để làm sân phơi lúa và làm đường dẫn nước vào ruộng của ông. Đến khoảng năm 2000 thì ông cho con ông là Ký Thanh T quản lý, sử dụng. Ông không biết việc ông Lê Văn L1 bán đất cho ông Ngô Văn P nên qua yêu cầu khởi kiện của ông P ông không đồng ý. Do ông đã cho con ông phần đất này nên con ông được quyền quyết định đối với phần đất tranh chấp. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Do tuổi đã cao nên tôi xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải, đối chất và xét xử của Tòa án các cấp.
Bà Phan Thị Bích T2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có mặt theo thông báo và triệu tập của Tòa án, không gửi văn bản nêu ý kiến nên không có lời khai.
Ông Huỳnh Văn L3 (người làm chứng) có lời khai: Ông không có quan hệ bà con thân thiết gì đối với nguyên đơn và bị đơn. Sau năm 1975 ông về địa phương sinh sống. Ông nguyên là phó ban N1, xã T (cũ). Vào năm 1976 thì ông Trần Văn T7 và ông Lê Văn L1 có xảy ra tranh chấp đối với thửa đất hiện tại đang tranh chấp, có hòa giải tại ban N1 và ông là thành viên trong tổ hòa giải. Khi ông tiến hành xác minh nguồn gốc đất thì được biết nguồn gốc đất là của cha ông Lê Văn L1 tạo lập nhưng do cha ông Lê Văn L1 bỏ đi nên để lại phần đất này cho ông Trần Văn T7 canh tác. Trong buổi hòa giải thì ông Trần Văn T7 trình bày cha ông Lẹ nợ của ông T7 hơn 100 giạ lúa nếu ông L1 có lúa thì ông T7 sẽ cho ông L1 chuộc lại nhưng ông L1 không có khả năng chuộc lại. Do thời điểm đó đang trong thời kỳ trang trải ruộng đất nên ông L1 cũng được cậu của ông L1 cho 10 công đất nên ông L1 thống nhất để lại phần này cho ông T7 canh tác. Do ông L1 đi bộ đội về không có nhà ở nên vào khoảng năm 1980 thì ông L1 có xin ông T7 một cái bờ có diện tích 2 công để ông L1 cất nhà và làm sân phơi lúa thì ông T7 đồng ý nên ông L1 mới cất nhà và sinh sống tại phần đất tranh chấp. Khi Nhà nước cấp giấy đại trà thì không biết lý do vì sao mà cả ông L1 và ông T7 đều không làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông L1 bán đất cho ông P thì ông không biết. Trước đây ông P có sinh sống ở địa phương nhưng là sống ở bên vợ của ông P chứ không cất nhà sinh sống trực tiếp trên thửa đất này mà sau này em rễ của ông P là ông Tạ Hoài T1 mới cất nhà và sinh sống trên đất tranh chấp. Ngoài ra ông không biết thêm gì khác.
Ông Trần Văn T4 (người làm chứng) có lời khai: Ông là anh ruột của bà Trần Thị L2 và là cậu ruột của ông Ký Thanh T. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha ông L1 là ông Hai R1 tạo lập. Trước đây do ông R1 nợ tiền của ông T7 không có khả năng trả nợ nên mới giao cho Trần Văn T7 sử dụng. Trước đây ông T7 cũng tạo điều kiện cho gia đình ông R1 chuộc nhưng gia đình ông R1 không có khả năng chuộc nên ông T7 vẫn tiếp tục sử dụng. Trước đây, do đã quá lâu nên ông không nhớ rõ thời gian, do ông L1 không có chỗ ở nên ông T7 mới cho ông L1 cất nhà cặp mé sông nhưng nằm trong phần đất ông T7 cho ông chứ không phải thửa đất hiện nay đang tranh chấp và ông T7 cho ông L1 mượn hai công đất hiện tại đang tranh chấp. Đối với việc mượn hai công đất này thì ông T7 chỉ cho ông L1 cấy lúa vào mùa nước, còn mùa khô ông T7 dùng phần đất này để kéo lúa và làm sân phơi. Sau này ông L1 bán cho ông Phà thế N thì ông không biết.
Ông Đinh Ngọc T5 (người làm chứng) có lời khai: Ông không có mâu thuẩn gì với nguyên đơn và bị đơn. Ông không biết nguồn gốc đất trước đây như thế nào nhưng vào năm 1972 thì ông theo gia đình về sống cặp bên phần đất hiện tại đang tranh chấp. Khi ông về địa phương sinh sống thì ông thấy ông Trần Văn T7 trực tiếp canh tác. Trước đây (không nhớ thời gian cụ thế) thì ông T7 có cho ông L1 cất nhà ở phần đất cặp bờ kênh. Đối với cái bờ có diện tích khoảng 02 công thì mùa khô thì ông T7 làm sân kéo lúa còn mùa nước ngập thì ông T7 cho ông L1 cấy lúa nhưng không được cày xới. Vào khoảng năm 1982 thì ông L1 không còn ở trên đất tranh chấp còn việc ông L1 có sang bán cho ông P phần đất này hay không thì ông không biết. Từ trước đến nay ông không thấy ông P canh tác trên đất tranh chấp. Ông P có về địa phương sống một thời gian nhưng là ở nhà vợ của ông P. Sau này (không nhờ thời gian) thì ông thấy ông Tạ Hoài T1 là em vợ của ông P cất nhà và ở trên đất đến nay. Ngoài ra ông không biết thêm gì khác.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 77/2024/DSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn P.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Tạ Hoài T1.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ký Thanh T.
Ổn định phần đất có diện tích là 767,4 m² ONT thuộc một phần thửa 785, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ cho ông Tạ Hoài T1 được quyền sử dụng.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Ngô Văn P với ông Tạ Hoài T1 là ông Tạ Hoài T1 được đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa 785, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T.
Ổn định phần đất có diện tích là 714,2 m² ONT thuộc một phần thửa 785, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ theo vị trí A của Bản trích đo địa chính cho ông Ký Thanh T được quyền sử dụng.
Về vấn đề tài sản trên đất các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vị trí thửa đất được xác định theo bản trích đo địa chính số: 203/TTKTTNMT ngày 16/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C (Đính kèm bản án).
Kiến nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền điều chỉnh diện tích, rà soát có thuộc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về hạn mức đất ONT khi tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tạ Hoài T1 và ông Ký Thanh T thì kiến nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền điều chỉnh lại cho phù hợp với quy định.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử nguyên đơn ông Ngô Văn P, ông Tạ Hoài T1 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/10/2024, thấy cần phải hỏi ý kiến của bả Nguyễn Thị B về việc ông P (chồng của bà) tặng cho ông Tạ Hoài T1 phần đất 1.600m 2 đất ONT (đo đạc thực tế 1481,6m 2 ) nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Tại biên bản ghi ý kiến ngày 02/12/2024 bà B đồng ý theo ý kiến ông Phà T6 cho ông T1 phần đất trên và bà xin vắng trong quá trình xét xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 03/03/2025 bà Nguyễn Ngọc H đại diện ủy quyền của ông P và ông T1 trình bày: Các đương sự khai chưa thống nhất nhưng các bên đều thừa nhận phần đất tranh chấp là của gia đình L1. Năm 1980 ông L1 chuyển nhượng cho ông P. Ông P đứng tên trong sổ mục kê. Bị đơn cho rằng sử dụng từ năm 1975 nhưng không có gì chứng minh. Bản án sơ thẩm cho rằng bị đơn sử dụng liên tục trên 30 năm là không có căn cứ. Cụ thể như năm 2013 thì ông P đã có tranh chấp và ra chính quyền địa phương nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Các cây trên phần đất tranh chấp đều thừa nhận của ông P trồng. Ông T1 đồng ý hỗ trợ 10.000.000 đồng để ông T di dời tài sản ra khỏi phần đất tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo. Công nhận toàn bộ diện tích đất trên của ông P và ông Phà T6 cho lại cho ông T1.
Phía bị đơn có ông Huỳnh Minh Đ trình bày: Việc ông P đứng tên trong sổ mục kê là không phù hợp với luật đất đai. Vì: Ông P không phải là người có hộ khẩu tại địa phương. Việc chuyển nhượng đất từ ông L1 qua ông P cũng không thể hiện và ông L1 không nhớ chuyển nhượng giá bao nhiêu, diện tích đất cũng không nhớ chính xác. Người đứng tên trong sổ mục kê là Ngô Văn P1 chứ không phải Ngô Văn P. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện nguồn gốc thửa đất số 785, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ là do ông P nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn L1 vào những năm 1980, đến năm 2013 thì ông P về Đồng Tháp cho lại phần đất này cho ông Tạ Hoài T1. Theo sổ mục kê ghi ngày 18/7/1984 ghi tên ông Ngô Văn P1, diện tích 1.600m². Tuy nhiên, về thực tế sử dụng phần đất tranh chấp này theo Công văn số 760 ngày 07/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã T xác định ông Ngô Văn P sử dụng phần đất từ nhẵng năm 1977- 1978 đến cách đây hơn 10 năm thì không sử dụng nữa. Gia đình ông Ký Thanh X có sử dụng một phần thửa 785 cách nay khoảng hơn 20 năm. Trong thời gian ông T sử dụng không phát sinh tranh chấp, điều này có thể khẳng định việc ông Ngô Văn P, ông Tạ Hoài T1 chỉ sử dụng một phần diện tích tại thửa 785 với 767,4 m² và ông Ký Thanh X với ông Ký Thanh T sử dụng một phần diện tích 714,2 m² là đúng thực tế. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ký Thanh X và ông Ký Thanh T đã sử dụng một phần đất tại thửa 785 ổn định trên 30 năm mà không có tranh chấp (thời điểm tính từ năm 1975 đến 2012), ông T đã sử dụng đất ổn định trong một khoảng thời gian dài đủ cơ sở để được xác lập quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật là chưa phù hợp. Bởi lẽ, phía bị đơn là gia đình ông X mới sử dụng khoản 20 năm chưa đủ điều kiện để xác định việc bị đơn sử dụng ngay tình, hợp pháp và trên 30 năm để công nhận quyền sở hữu, hơn nữa phía bị đơn cho rằng nhận chuyển nhượng từ cha ông Lẹ nhưng tại phiên tòa ông L1 khai phần đất tranh chấp chuyển nhượng cho ông P. Do đó việc bị đơn sử dụng đất nhưng không có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất là của bị đơn nên có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là của ông P.
Đối với tài sản tranh chấp các đương sự thống nhất trong trường hợp Tòa án công nhận đất cho ai thì người đó sử dụng theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai. Tuy nhiên tại phiên tòa ông Tại Hoài T10 thống nhất hỗ trợ cho bị đơn 10.000.000 đồng chi phí di dời nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với diện tích đất ODT, phần đất của ông P được công nhận có diện tich 1481,6m², theo sổ mục kê ghi loại (đất T) là chưa phù hợp theo Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành nên đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, phần diện tích đất tranh chấp phía ông P và bà B thống nhất tặng cho ông Tạ Hoài T1 nên đề nghị ghi nhận.
Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của ông Ngô Văn P và ông Tạ Hoài T1 là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ theo hướng công nhận diện tích đất 1481,6m² cho ông Ngô Văn P và ông Tạ Hoài T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 9, Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn ông Ngô Văn P và ông Tạ Hoài T1 trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Vào năm 1980 ông Ngô Văn P nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn L1 là 1.600m² đất. Ông Ngô Văn P đứng tên trong sổ mục kê diện tích 1600m 2. Năm 2013 ông P về Đồng Tháp và tặng cho lại cho ông Tạ Hoài T1 thửa đất này. Ông Ngô Văn P xác định họ tên Ngô Văn P1 trong sổ mục kê với Ngô Văn P là một người. Do ông Phà T6 cho ông T1 nên ông P và ông T1 yêu cầu ông T di dời tài sản trả phần đất trên cho ông để ông tặng cho ông T1. Diện tích yêu cầu bị đơn giao trả là 714,2 m² đất ONT, tờ bản đồ số 11 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Phía bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn cho rằng: Phần đất đang tranh chấp trước đây là của ông Trần Văn T7 (cha vợ của ông Ký Thanh X) sử dụng từ trước năm 1975, có những hộ lân cận biết việc này như ông L1, ông T4 và ông T5. Sau này có cho ông Lê Văn L1 ở nhờ diện tích khoảng 1.600 m² đất. Sau đó, ông Tư T8 cho lại ông Ký Thanh X, do cha con nên không có làm giấy tờ gì. Đến năm 2000 ông Xuân T9 cho lại ông Ký Thanh T, ông T cất nhà và sử dụng diện tích khoảng 714,2 m² cho đến nay. Bị đơn phản tố yêu cầu công nhận cho ông sử dụng diện tích theo đo đạc thực tế là 714,2 m² đất ONT.
Ông T1 có yêu cầu độc lập yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho của ông P và cho ông đứng tên phần đất có diện tích là 1.481,6 m² đất ONT, tờ bản đồ số 11 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguồn gốc đất các đương sự thừa nhận đất có nguồn gốc từ ông Lê Văn L1. Ông L1 cho rằng đã chuyển nhượng cho ông P chứ không chuyển nhượng cho gia đình ông X. Phía ông X cho rằng mình chuyển nhượng đất từ ông L1 nhưng không có giấy tờ gì chứng minh và ông L1 không thừa nhận. Ngược lại ông L1 thừa nhận có chuyển nhượng đất cho ông P là đúng sự thật. Ông P được đứng tên trong sổ mục kê.
Xét về chứng cứ chứng minh: nguyên đơn khởi kiện đòi quyền sử dụng đất là có căn cứ. Vì, nguyên đơn đứng tên trong sổ mục kê và chính quyền địa phương xác nhận. Bị đơn không chứng minh quyền sử dụng đất từ đâu mà có, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất mà chỉ trình bày miệng. Vì vậy, buộc phải giao trả quyền sử dụng cho nguyên đơn là phù hợp. Bản án sơ thẩm nhận định phía bị đơn canh tác lâu dài và ổn định trên 30 năm nên công nhận phần đất trên cho bị đơn là chưa có căn cứ. Vì: ông P canh tác liên tục từ lúc chuyển nhượng đến năm 2013 ông mới về Đồng Tháp và ông T1 lại tiếp tục canh tác phân nữa diện tích đất tranh chấp này. Năm 2013 ông P cũng có đơn khởi kiện ông X trao trả lại phần đất tranh chấp nhưng chưa được giải quyết. Bản án sơ thẩm cho rằng bị đơn canh tác liên tục trên 30 năm là không có căn cứ. Phía bị đơn cũng có phần đất giáp ranh với phần đất tranh chấp và phần đất của bị đơn cũng đã đăng ký quyền sử dụng đất nhưng phần đất tranh chấp này bị đơn không được đăng ký. Do đó, xét các chứng cứ thể hiện phần đất tranh chấp trên là của ông Ngô Văn P ông Ký Thanh X (sau này là ông Ký Thanh T) không có canh tác liên liên tục, không có chứng cứ chứng minh nên buộc phải trả đất trên cho ông P. Bản án sơ thẩm nhận định và chia đôi phần đất trên là chưa đủ cơ sở nên phải sửa một phần bản án sơ thẩm.
[3] Xét về cây trồng và vật kiến trúc trên đất: Nguyên đơn ông P là người trồng cây trên phần đất tranh chấp. Bị đơn có công trình nhà tạm trên đất nên phải di dời trả đất cho nguyên đơn là phù hợp. Tuy nhiên, Tại phiên tòa phúc thẩm ông T1 đồng ý hỗ trỡ bị đơn 10.000.000 đồng chi phí di dời nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự nguyện này của nguyên đơn.
[4] Xét Việc thoả thuận tặng cho của ông P và ông T1 tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm bà B đồng ý tặng cho là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận.
[5] Đối với diện tích đất tranh chấp được ghi theo sổ mục kê là 1600m 2 đất ONT, đo đạc thực tế là 1481,6m 2. Do hạn mức cấp ONT là quá cao so với quy định. Do đó, Kiến nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền điều chỉnh diện tích, (nếu chưa phù hợp) rà soát có thuộc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất nêu trên hay không để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về hạn mức đất ONT khi tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tạ Hoài T1 thì kiến nghị cơ quan chuyên môn xem xét cho phù hợp với quy định.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ký Thanh T phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005338 ngày 27/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai. Ông T được nhận lại 5.700.000 đồng.
Ông Tạ Hoài T1 được nhận lại 300.000 đồng án tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu 0007738 ngày 29/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. .
[7] Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá: 5.500.000 đồng ông T phải chịu. Ông T1 đã nộp và chi xong nên ông T phải trả lại cho ông T1 là 5.500.000 đồng.
[8] Về án phí phúc thẩm: Không ai phải chịu. Ông T1 được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008463 ngày 14/06/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
[9] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 163, Điều 164, 166 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 100, 101 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn P, ông Tạ Hoài T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn P. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Tạ Hoài T1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ký Thanh T.
Buộc ông Ký Thanh T phải giao trả phần diện tích 714,2 m² đất ONT và ông T phải di dời toàn bộ tài sản ra khỏi phần đất tranh chấp thuộc thửa 785, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ cho ông Tạ Hoài T1.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Ngô Văn P với ông Tạ Hoài T1 là ông Tạ Hoài T1 được đứng tên toàn bộ quyền sử dụng đất 1481,6m² (theo đo đạc thực tế) tại thửa 785, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T.
Ghi nhận sự nguyện của ông Tạ Hoài T1 hỗ trợ chi phí di dời cho ông Ký Thanh T là 10.000.000 đồng.
Vị trí thửa đất được xác định theo bản trích đo địa chính số: 203/TTKTTNMT ngày 16/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C (Đính kèm bản án).
Kiến nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền điều chỉnh diện tích, rà soát có thuộc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về hạn mức đất ONT khi tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tạ Hoài T1 thì kiến nghị cơ quan chuyên môn xem xét cho phù hợp với quy định.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ký Thanh T phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005338 ngày 27/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai. Ông T được nhận lại 5.700.000 đồng.
Ông Tạ Hoài T1 được nhận lại 300.000 đồng án tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu 0007738 ngày 29/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. .
Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá:
5.500.000 đồng ông T phải chịu. Ông T1 đã nộp và chi xong nên ông T phải trả lại cho ông T1 là 5.500.000 đồng.
Về án phí phúc thẩm:
Không ai phải chịu. Ông T1 được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008463 ngày 14/06/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Phạm Văn Bình Nguyễn Quyến | Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 70/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 70/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyền sử dụng đất
