Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 70/2024/HSST

Ngày 30 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng; ông Nguyễn Văn Thể

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với:

  • * Bị cáo Trần Văn C, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Trần Thị B; vợ: Lương Thị Thu T; con: 03 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 17/01/2024 chuyển tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến ngày 06/02/2024 được chuyển sang áp dụng biện pháp Cấm khỏi nơi cư trú; có mặt.
  • * Bị hại: Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1969 (đã chết). Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965; anh Đỗ Đức Đ1, sinh năm 1994; chị Đỗ Huyền T2, sinh năm 1995. Người đại diện theo ủy quyền: anh Đỗ Đức Đ1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn L, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
  • * Bị đơn dân sự: Chị Lương Thị Thu T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Anh Đỗ Văn V, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn Q, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
    • - Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện B, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
  • * Người làm chứng: Anh Vũ Đình H1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn C có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp có giá trị đến ngày 27/10/2025. Khoảng 12h15', ngày 16/01/2024 C điều khiển xe ô tô BKS 90C-126.74 đi từ tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D về nhà tại TDP số D, phường H, C đi trên đường T hướng C-Hoà Mạc với vận tốc khoảng 50-60km/h. C điều khiển xe đi trên làn đường trong cùng sát với dải phân cách giữa hai chiều đường. Khi điều khiển xe BKS 90C-126.74 đi đến khu vực ngã ba lối vào cổng chợ mới H thì C quan sát thấy phía trước cách xe ô tô của C khoảng 40-50m có 01 xe ô tô màu đỏ, loại 04 chỗ đang dừng ở lối rẽ sang đường, bật đèn xin nhan xin chuyển hướng sang chiều đường của C thì C vẫn điều khiển xe ô tô đi bình thường. Cùng lúc này ông Đỗ Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 90H4-3885 đi từ phía sau bên trái xe ô tô màu đỏ đi sang chiều đường C - H. Khi ông Đ điều khiển xe đi vào khu vực giữa phần đường xe chạy chiều C - H, C không giảm tốc độ tiếp tục giữ vận tốc và điều khiển xe ô tô đi vào khu vực ngã ba nên đã để phần đầu bên trái xe ô tô BKS 90C-126.74 đâm va vào phần xe bên phải của xe mô tô BKS 90H4-3885 làm ông Đ cùng xe mô tô rê trượt xuống đường về phía trước khoảng 12m. C không dừng lại mà điều khiển xe ô tô BKS 90C-126.74 chạy về nhà rồi gọi điện thoại cho anh Đỗ Văn V ra đón, chở C về TDP Đ, phường C. Hậu quả: Ông Đỗ Văn Đ tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng. Đến ngày 17/01/2024, C đến Công an thị xã D đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Kết quả kiểm tra ngày 17/01/2024 Trần Văn C không có nồng độ cồn, âm tính với các chất ma tuý.

* Khám nghiệm hiện trường: Tai nạn giao thông xảy ra tại ngã 3 giao nhau giữa đường T và đường C phía nam chợ H2 thuộc địa phận TDP số 3, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đường Trần Quang K là đường hai chiều có dải phân cách dạng bó vỉa. Chiều đường hướng H-C rộng 7,25m. Chiều C-Hoà Mạc được phân chia thành hai phần đường, phần đường sát với mép đường phía bên phải rộng 3,4m, tiếp giáp là phần đường thứ 2 rộng 3,45m, hai phần đường này phân chia bởi vạch sơn nét đứt màu trắng rộng 0,15m, khoảng mở của dải phân cách tại khu vực hiện trường rộng19m. Dấu vết (1) là mảng vết mài sạt bề mặt chất màu đen dầu máy trên diện KT (32,9x0,6)m có hướng C-Hoà Mạc điểm kết thúc tại vị trí đổ của xe mô tô BKS 90H4-3885. Đo từ điểm gần nhất của dấu vết (1) vào đường tuyến phía bên phải giao nhau giữa đường T với đường cổng phía nam chợ H2 là 3,45m. Đo từ dấu vết (1) về phía Hoà Mạc 12,4m là đầu dấu vết (2), dấu vết (2) là vết mài sạt màu đen KT (1,15x0,15)m có hướng C-H đo từ điểm gần nhất của đầu dấu vết (2) vào mép đường bên phải hướng C-H là 4,3m. Đo từ điểm gần nhất của cuối đầu vết (2) vào mép đường phía bên phải hướng C-H là 4,2m. Đo từ điểm cuối dấu vết (2) về phía Hoà Mạc 1m là đầu vết (3). Dấu vết (3) là vết mài sạt bề mặt bán dính chất dịch màu hồng tổ chức da máu thịt theo hướng C-Hoà Mạc điểm kết thúc tại vị trí tử thi có KT (12,8x0,4)m. Đo từ điểm gần nhất của đầu vết (3) vào mép đường phía bên phải hướng C-H là 4,8m. Đo từ đầu vết (3) về phía Hoà Mạc 9,2m là tâm vết (4), dấu vết (4) là vùng nhựa vỡ KT (46,7x7)m. Đo từ tâm vết (4) vào mép đường phía bên phải là 3,6m. Đo từ tâm vết (4) về phía Hoà Mạc 4,9m là gót chân trái của tử thi, tử thi chết tư thế nằm ngửa được ký hiệu (5). Đo từ gót chân trái của tử thi vào mép đường phía bên phải hướng C-H là 4,7m. Đo từ gót chân trái của tử thi về phía Hoà Mạc 4,1m là tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 90H4-3885. Xe mô tô BKS 90H4-3885 được ký hiệu là (6), xe bị đổ nghiêng bên trái đầu xe hướng về phía Hòa M đuôi xe nằm chếch chéo hướng C. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô BKS 90H4-3885 vào mép đường bên phải hướng C-H là 6,5m. Đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 90H4-3885 vào mép đường phía bên phải hướng C-H là 5,4m. Đo từ đầu vết (1)về phía Hoà Mạc 4,8m là khoảng mở của dải. Đo từ đầu vết (1) về phía Hoà Mạc 5,8m là chân cột điện cao thế số 10.

* Kết quả khám xe mô tô 90H4-3885: Cụm đèn pha, đèn xi nhan hai bên bị bật rời khỏi vị trí ban đầu. Cánh yếm bên phải bị gãy vỡ mài sạt trên diện KT (44x15)cm. Cánh yếm chắn gió bên trái bị bật rời khỏi xe. Mặt ngoài bên phải cung chắn bùn phía trước bánh trước có vết mài sạt nhựa trên diện KT (32x17,5)m. Mặt ngoài ống giảm xóc bên phải bánh trước có vết mài sạt kim loại KT (12x2,5)cm hướng từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất đo cách mặt đất là 34cm. Mặt ngoài lốc máy bên phải có bám dính chất màu đỏ nghi máu và tổ chức mô, da, cơ KT (16x14)cm. Mặt ngoài ốp nhựa phía dưới ốp nhựa sườn xe bên phải bị vỡ thủng mài sạt nhựa KT (18x10)cm mặt ngoài có bám dính chất màu trắng nghi sơn và rải rác chất màu đỏ nghi máu. Mặt ngoài ốp nhựa bên phải sườn xe bị mài sạt KT (43x7)cm bề mặt bám dính chất màu trắng nghi sơn có hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước. Ống xả bị đẩy từ phải sang trái làm đuôi ống xả sát với nan hoa lốp sau. Cần sang số bị đẩy ép từ trái sang phải ép sát vào cạnh bên trái của lốc máy. Mặt dưới lốc máy bị thủng vỡ tại vị trí ốc tháo dầu KT (5x4)cm. Tại vị trí góc phía sau bên trái có vết vỡ thủng gãy kim loại KT (6,5x3)cm làm bung bật giá để chân trước và chân chống phụ khỏi vị trí ban đầu. Để chân phía sau bên trái bị gãy bung bật khỏi xe. Đầu ốc bắt giữ giảm xóc phía sau bên trái bị mài mẹt kim loại KT (1,5x1,5)cm.

* Kết quả khám xe ô tô BKS 90C-126.74: Bên trái nắp capô bị bẹp lõm trên diện KT (115x52)cm, điểm lõm sâu nhất so với vị trí ban đầu là 6cm, điểm gần nhất cách đầu nắp capô này 10cm, cách cạnh ngoài cùng bên trái cuối nắp capô là 4cm. Lưới tản nhiệt phía trước đầu xe bị gãy vỡ nhựa trên diện KT (85x26)cm làm bùng bật logo phía trước đầu xe. Ốp nhựa cụm đèn pha, đèn tín hiệu phía trước bên trái bị gãy vỡ trên diện KT (35x15)cm. Mặt ngoài bên trái ba đờ sốc có vết mài sạt hướng từ trên xuống dưới từ phải sang trái trên diện KT (46x28)cm bề mặt bám dính chất màu đỏ nghi sơn, điểm gần nhất trùng với góc trên bên trái ba đờ sốc này, điểm thấp nhất cách đất 47cm. Đèn sương mù phía trước bên trái bị đẩy từ trước về sau bật rời khỏi hộc chứa đèn. Góc dưới bên trái ốp nhựa phía dưới đèn sương mù bên trái phía trước có vết bẹp lõm KT (20x20)cm hướng từ trước về sau bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su, điểm thấp nhất đo cách đất 34cm. Ốp nhựa bảo vệ biển số phía trước bị vỡ, mặt ngoài bám dính chất màu đỏ nghi sơn trên diện KT (7x6)cm. Mặt ngoài phần dưới ba đờ sốc có vết mài trượt KT (11x7)cm bề mặt bám dính chất màu đỏ nghi sơn hướng từ trên xuống dưới, điểm gần nhất cách cạnh góc dưới bên trái ba đờ sốc 99cm, thấp nhất cách đất 45cm. Cạnh phía trước nắp capô có vết mài sạt bẹp lõm kim loại KT (8x3)cm hướng từ trước về sau bề mặt bám dính chất màu xám, điểm gần nhất cách góc phía trước bên trái capô này 72cm, điểm thấp nhất cách đất 106cm.

Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H: Không tìm thấy E(cồn) trong mẫu máu ký hiệu M1 ghi thu của tử thi Đỗ Văn Đ.

Kết luận giám định tử thi số 104/KL-KTHS ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân dẫn đến tử vong của ông Đỗ Văn Đ: Chấn thương cột sống - tuỷ sống cổ (Trật khớp, phù nề, bầm dập, tụ máu tuỷ sống đoạn C4-C5).

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Trần Văn C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Đỗ Văn Đ số tiền 250.000.000đ. Các bên cam kết việc giải quyết trách nhiệm dân sự đã xong và không có ý kiến gì.

* Về vật chứng thu giữ: 01 ô tô 90C-126.74; 01 đăng ký của xe ô tô; 01 chứng nhận kiểm định của xe ô tô; 01 giấy bảo hiểm TNDS của xe; 01 giấy phép lái xe của Trần Văn C; 01 xe mô tô 90H4-3885; 01 đăng ký của xe mô tô; 01 giấy phép lái xe của ông Đỗ Văn Đ. Quá trình điều tra xác định: 01 xe ô tô biển số 90C-126.74 cùng toàn bộ giấy tờ của xe là tài sản hợp pháp của chị Lương Thị Thu T và 01 xe mô tô biển số 90H4-3885 cùng toàn bộ giấy tờ của xe đều mang tên chị Nguyễn Thùy D là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn Đ. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô, xe mô tô và toàn bộ giấy tờ kèm theo cho các chủ sở hữu hợp pháp là chị Lương Thị Thu T và anh Đỗ Đức Đ1 (con trai ông Đ).

Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 20/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố Trần Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết; về vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì; bị dơn dân sự không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Trần Văn C có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 12 giờ 28 phút ngày 16/01/2024, tại ngã ba giao nhau giữa đường T và đường cổng phía nam chợ H2 thuộc tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, C điều khiển xe ô tô BKS 90C - 126.74 đi vào khu vực ngã ba giữa đường T và đường cổng phía nam chợ H2 thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã để phần đầu bên trái xe ô tô BKS 90C-126.74 đâm vào má bên phải của xe mô tô BKS 90H4-3885 do ông Đỗ Văn Đ điều khiển đang đi vào khu vực giữa phần đường xe chạy chiều C - H. Sau va chạm, C điều khiển xe ô tô BKS 90C -126.74 bỏ chạy khỏi hiện trường, đến ngày 17/01/2024 C đến Công an thị xã D đầu thú. Hậu quả ông Đỗ Văn Đ tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.

Hành vi của Trần Văn C gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương; hành vi điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết một người, bỏ chạy sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động để gia đình tích cực khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; khi bình tĩnh trở lại bị cáo đã ra đầu thú; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô đi vào ngã ba đường giao nhau không có vòng xuyến không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên, cần ấn định mức hình phạt tương xứng nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tuy nhiên xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội đã tích cực khắc phục hậu quả, bị hại cũng có lỗi vì thế sau khi xem xét, cân nhắc thấy không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo làm nghề tự do nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường theo thỏa thuận với đại diện của bị hại số tiền 250.000.000đ, nay không ai yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

[6] Về đối tượng, hành vi khác trong vụ án: Đối với anh Đỗ Văn V điều khiển xe mô tô chở Trần Văn C bỏ trốn, tuy nhiên V không biết việc C gây tai nạn nên không có căn cứ xử lý.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2024).

    Giao bị cáo Trần Văn C cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

  2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại bị cáo Trần Văn C 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C có số [...].
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000đ.

Báo cho bị cáo, bị đơn dân sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 70/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Cường phạm tội "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger