Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-PT

Ngày: 17/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 70/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Bích T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Thị Bích T, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1986; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện tại: Thôn N, xã B, thành phố T, Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đ, sinh năm 1964 và bà Diệp Ái L, sinh năm 1964; có chồng Nguyễn C, sinh năm 1987 và 05 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Nguyễn C, Huỳnh Văn H nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 21/12/2023. Huỳnh Văn H sử dụng tài khoản zalo “Hauhuynh” liên lạc qua tài khoản zalo “Dvbt Út Ba R" của Nguyễn C để hỏi mua ma tuý đá, với số lượng góc 8 thì C đồng ý bán và nói H đến nhà C nhận. H điều khiển xe mô tô biển số 78C1- 268.97 đến nhà Chỉ ở thôn N, xã B, thành phố T gặp vợ của C là Lê Thị Bích T. T gọi điện thoại cho C nói có Hậu đến nhà tìm gặp, C nói với T lấy bì ma túy đá của Chỉ đang cất giấu trong hộp giấy carton màu đỏ đặt dưới nền trong nhà đưa cho H và nhận số tiền 700.000 đồng, T đồng ý và đi lấy bì ma tuý đá trong hộp giấy carton giao cho H và nhận 700.000 đồng. H xin T thêm 01 bì nilon, phân số ma tuý vừa mua thành 02 bì nilon rồi cất vào túi quần đang mặc. H điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường C, thuộc thôn N, xã B, thành phố T thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên trái H đang mặc có 02 bì nilon trong suốt hàn kín, kích thước (7,5x3,7)cm và (1,9x02)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng. H khai đó là ma túy mua của Nguyễn C với giá 700.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn C tại thôn N, xã B, thành phố T thu giữ 01 bì nilon trong suốt kích thước (8,5x0,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 bì nilon trong suốt kích thước (04x02)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu kích thước (3,5x01)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, 01 bì nilon chứa một viên nén màu trắng hình ovan. Chỉ khai toàn bộ số ma túy này mua của một người tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 3.000.000 đồng về cất giấu với mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Kết quả điều tra xác định, vào ngày 19/12/2023 tại thôn N, xã B, thành phố T, C còn bán cho H 01 bì ma túy đá, với giá 700.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 633/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 bì nilon (thu trên người H) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,581gam; Tinh thể màu trắng trong 01 bì nilon là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 4,742 gam; Tinh thể màu trắng trong đoạn ống nhựa hàn kín là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,181 gam; Viên nén màu trắng, hình ovan là ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,217 gam; Tinh thể màu trắng trong 01 bì nilon là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,378 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Lê Thị Bích T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Lê Thị Bích T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Bích T 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn phạt bị cáo Nguyễn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/7/2024, bị cáo Lê Thị Bích T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Bích T vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo – Sửa bản án sơ thẩm; Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s, Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Lê Thị Bích T 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị Bích T tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ là tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Tại xã B, thành phố T, trong các ngày 19/12/2023 và ngày 21/12/2023, Nguyễn C đã 02 lần có hành vi bán ma túy cho Huỳnh Văn H lấy 1.400.000 đồng và có hành vi tàng trữ 4,923 gam ma túy loại Methamphetamine, 1,217 gam ma túy loại MDMA và 0,378 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để bán cho người khác kiếm lời; Lê Thị Bích T có hành vi cùng với C bán ma túy cho H 01 lần; Huỳnh Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,581 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn C, Lê Thị Bích T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; trong đó, bị cáo T theo Khoản 1, bị cáo C theo Điểm b, p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố, xét xử bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị Bích T, Hội đồng xét xử thấy:

Mặc dù, tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện đã nộp 5.000.000 đồng tiền phạt bổ sung và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất độc dược của Nhà nước, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân, mầm mống làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nên đối với loại tội phạm này cần được phát hiện, ngăn chặn và xử phạt nghiêm khắc. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo là không thuyết phục, không đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, không chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

  1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    Phạt: Bị cáo Lê Thị Bích T – 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Bích T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo đã nộp đủ tại biên lai thu tiền số 0001141 ngày 29/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Thị Bích T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - VKSND cấp cao ĐN (1);
  • - TAND TP.Tuy Hoà(2);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - VKSND TP.Tuy Hoà (1);
  • - Công an TP. Tuy Hoà (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - Người tham gia tố tụng (1);
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 70/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Bích T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger