Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70 /2024/HS-ST

Ngày 27 - 8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu

Ông Lê Minh Chiểu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024;

Đối với bị cáo: Trần Thị Q, tên gọi khác: không Giới tính: Nữ.

Sinh ngày: 11/9/1986, tại xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 6/12; Bố: Trần Văn H; Sinh năm: 1962; Mẹ: Phạm Thị H1, sinh năm: 1962; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; Chồng: Không; Có 02 con, con đầu 11 tuổi, con thứ hai 09 tuổi;

Tiền sự: 02 tiền sự:

  • Ngày 14/5/2014 bị Công an phường P, quận T, TP . Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, chưa thi hành.
  • Ngày 26/5/2023 bị Công an huyên H2, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành số tiền 2.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, chưa thi hành.

Tiền án: 02 tiền án:

  • Ngày 19/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP . Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 26/6/2019 Q chấp hành xong án phạt tù, tuy nhiên đến nay Trần Thị Q chưa nộp tiền án phí.
  • Ngày 25/10/2023 bị Tòa án nhân dân TP . Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 09/5/2024 Trần Thị Q chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Y; Có mặt.

- Bị hại: Bà Trương Thị N, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Vắng mặt

- Người làm chứng: Bà Trương Thị N1, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Ngày 09/5/2024 Trần Thị Q chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam S – Bộ C đóng tại địa bàn thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 08 giờ cùng ngày, Trần Thị Q được ra trại và đi bộ từ Trại giam S đi về hướng ngã ba K, xã Y, huyện Y để bắt xe trở về địa phương. Khi đi đến nhà chị Trương Thị N, sinh năm 1977 ở thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Q nhìn thấy nhà chị N không khóa cửa cổng, không có người trông coi nên đã đột nhập vào nhà và phát hiện thấy 01 (Một) chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA màu đen - vàng, đã qua sử dụng đang dựng trên hè nhà. Trần Thị Q nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe đạp để sử dụng làm phương tiện đi lại nên đã trộm cắp chiếc xe đạp trên. Khi Q đạp xe đi khỏi nhà chị N được một đoạn thì bị chị Trương Thị N1 (sinh năm 1979 ở cùng thôn và là em gái của chị N) phát hiện, báo cáo sự việc tới Công an xã Y. Lúc này, Trần Thị Q bị lực lượng Công an xã Y yêu cầu dừng lại kiểm tra. Tại Cơ quan Công an, Trần Thị Q đã đầu thú và tự nguyện khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân; đồng thời giao nộp chiếc xe đạp vừa chiếm đoạt được.

Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y, xác định: Giá trị một chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra sự việc là 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Trần Thị Q đã thành khẩn khai báo. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Mặc dù giá trị chiếc xe đạp chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên tại thời điểm trộm cắp chiếc xe đạp Quý đang có 02 tiền án và 02 tiền sự về tội trộm cắp tài sản, vì vậy hành vi của Q đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị can phạm tội không có tình tiết tăng nặng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp, qúa trình điều tra đã thành khẩn khai báo khai nhận hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can.

Vật chứng vụ án: Bị can tự nguyện giao nộp: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng, đây là tài sản mà bị can Q đã chiếm đoạt của chị Trương Thị N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe đạp trên cho chị N là đúng quy định.

Về phần dân sự: Chị Trương Thị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSYĐ ngày 15/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo Trần Thị Q, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị Q thừa nhận: Vào khoảng 9 giờ ngày 09/5/2024 tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, lợi dụng sơ hở của bị hại, Trần Thị Q đã có hành vi trộm cắp chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng với trị giá là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) của chị Trương Thị N.

Mặc dù giá trị tài sản dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo Trần Thị Q đang có tiền án và tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này đã cấu thành tội “ trộm cắp tài sản” theo điểm a, b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đã gây ra đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Q, phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”:

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Q từ 09 (chín) đến 12(mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng là chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA màu đen- vàng đã trả lại cho bị hại nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 9 giờ ngày 09/5/2024 tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, lợi dụng sơ hở của bị hại, Trần Thị Q đã có hành vi trộm cắp chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng với trị giá là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) của chị Trương Thị N.

Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.

Bị cáo Trần Thị Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, mặc dù tài sản bị cáo phạm tội là 400.000 đồng nhưng Trần Thị Q đang có tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a,b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo chỉ vì muốn có tài sản sử dụng mà không phải bỏ tiền mua, nên khi thấy có sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, đã bất chấp pháp luật, lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của người khác. Vụ án xảy ra đã gây tâm lý hoang mang bất bình trong nhân dân, đồng thời gây mất trật tự trị an, làm ảnh hưởng đến sự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và lên một mức án nghiêm minh đối với bị cáo là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “ Người phạm tội thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo “ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự : Bị cáo đã ra “ Đầu thú” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo Q là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe và nhận thức nhưng lười lao động, coi thường pháp luật; Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, bắt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Xét thấy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ thách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội; xử phạt bị cáo mức án phạt tù thấp hơn đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Trương Thị N không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên miễn xét.

[8] Về vật chứng vụ án: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng, đây là tài sản mà bị cáo Q đã chiếm đoạt của chị Trương Thị N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe đạp trên cho chị N

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a,b khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s, điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Q, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Q 07( Bảy) tháng tù; Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại cho bị hại.
  4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Đ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Hồng Đức

Thị Nhuần. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe đạp trên cho chị N

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

7

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a,b khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s, điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Q, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Q 07( Bảy) tháng tù; Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/5/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu vàng - đen, đã qua sử dụng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại cho bị hại.
  4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Hoàng Thị Thu Lê Minh Chiểu

Thẩm Phán- Chủ tọa phiên tòa

Cao Hồng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger