Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày       : 25/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Ngọc Tuyền

Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Đào Công L - Kiểm sát viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. tham gia phiên tòa tại điểm cầu Thành phần nhà tạm giữ Công an quận T: Ông Phạm Xuân C - Kiểm sát viên

- Đại diện Nhà tạm giữ Công an quận T dẫn giải bị cáo đến tham gia phiên tòa tại điểm cầu Thành phần nhà tạm giữ Công an quận T:

Ông Tăng Bảo Q – Phó đội trưởng Đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T

Ông Nguyễn Đức D – Cán bộ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T

Ông Vũ Hải P – Cán bộ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an quận T, Tòa án nhân dân quận Tân Bình tổ chức xét xử theo hình thức trực tuyến và công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh V, sinh năm 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: B Đ, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ (Đã chết) và bà Đỗ Thị Ngọc V1; Vợ: Đinh Thị K; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2000; Nhân thân: Tháng 07/2002 – tháng 04/2004: Cai nghiện bắt buộc tại Trường G và giải quyết việc làm số 4 theo Quyết định của Chủ tịch UBND Thành phố về việc “Đưa người vào cơ sở chữa bệnh số 9716/QĐ – UB ngày 10/7/2002”. Đến ngày 14/4/2004 bỏ trốn và ngày 26/11/2005 tự trình diện thi hành. Ngày 15/12/2008, UBND Thành phố H có Quyết định số 7688/QĐ – UBND về giải quyết tái hòa nhập cộng đồng đối với người đã chấp hành xong biện pháp quản lý, giáo dục và dạy nghề cho người sau cai nghiện; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 06/12/2023. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 06/12/2023, tại bờ kênh N, chân cầu S, đường T, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy tuần tra, phát hiện Nguyễn Anh V đang đứng có biểu hiện nghi vấn, kiểm tra bắt quả tang V cất giấu một gói nylon chứa bột màu trắng là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,1976 gam, loại Heroine vào túi quần bên phải và một gói nylon chứa bột màu trắng là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,0556 gam, loại Heroine vào túi quần bên trái của V đang mặc. (Kết luận giám định số 13657/KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H).

Quá trình điều tra, Nguyễn Anh V khai nhận là đối tượng có sử dụng ma túy loại Heroine. Vào khoảng 21 giờ 00 ngày 06/12/2023, khi đang đứng đợi bạn tại tại bờ kênh N, chân cầu S, đường T, Phường C, quận T, một nam thanh niên mang khẩu trang (Không xác định lai lịch) đến chào bán ma túy, V đồng ý mua hai gói ma túy loại Heroin với giá 200.000 đồng rồi cất giấu vào túi quần bên trái 01 gói và bên phải 01 gói. Khi V tiếp tục đứng chờ bạn thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Việt cất giấu trái phép chất ma túy như trên.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi chữ 2677/23-T (G) và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, bên trong là ma túy tang vật còn lại sau giám định là bột màu trắng (M1) có khối lượng 0,1112 gam.
  • - 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi chữ 2677/23-T (G) và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, bên trong là ma túy tang vật còn lại sau giám định là bột màu trắng (M2) có khối lượng 0,0232 gam.
  • - 01 (Một) điện thoại di động N màu đen có số IMEI: 358892079303275 (Đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong), kiểm tra không ghi nhận nội dung liên quan đến việc mua, bán, tàng trữ trái phép ma túy nêu trên, là tài sản cá nhân của bị can V.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS - TB ngày 19 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Anh V, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/12/2023, Nguyễn Anh V đã có hành vi tàng trữ trái phép (0,1976 + 0,0556) = 0,2532 gam ma túy loại Heroin với mục đích để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Anh V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Nhân thân bị cáo là xấu, bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất giấu chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện một cách triệt để đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xét tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi chữ 2677/23-T (G) và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, bên trong là ma túy tang vật còn lại sau giám định là bột màu trắng (M1) có khối lượng 0,1112 gam, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy;
  • - 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi chữ 2677/23-T (G) và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, bên trong là ma túy tang vật còn lại sau giám định là bột màu trắng (M2) có khối lượng 0,0232 gam, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy;
  • - 01 (Một) điện thoại di động N màu đen có số IMEI: 358892079303275 (Đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong), kiểm tra không ghi nhận nội dung liên quan đến việc mua, bán, tàng trữ trái phép ma túy nêu trên, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
  • Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Anh V 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2023.

[2] Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi chữ 2677/23-T (G) và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, bên trong là ma túy tang vật còn lại sau giám định là bột màu trắng (M1) có khối lượng 0,1112 gam; 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi chữ 2677/23-T (G) và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, bên trong là ma túy tang vật còn lại sau giám định là bột màu trắng (M2) có khối lượng 0,0232 gam.

Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động N màu đen có số IMEI: 358892079303275 (Đã qua sử dụng, tình trạng như lúc tạm giữ, không kiểm tra bên trong).

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 79/BB/2024 ngày 22/4/2024 giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Quang Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger