Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số: 70/2024/HS-ST.

Ngày: 21-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Nhung;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh N, sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp B T, xã P B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn E (Đã chết) và bà Đỗ Thị L (Đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22-01-2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1941 (Đã chết).
  2. Địa chỉ: Khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện hợp pháp cho ông L: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1968 – Xin vắng mặt.

    Địa chỉ: Ấp V T, xã P T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Võ Quang T1, sinh năm 1971 – Xin vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn dân sự: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1986 – Có mặt.

Địa chỉ: Ấp B Q, xã P B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) – Văng mặt.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 21-22 tòa nhà MIPEC, số 229 Tây Sơn, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11-11-2023, Nguyễn Minh N điều khiển xe ô tô biển số 70A-452.97 chở anh Võ Văn H và một người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi từ sân bay Tân Sơn Nhất thuộc quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe ô tô trên Quốc lộ 22 đến giao lộ thuộc khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì va chạm với xe mô tô biển số 70M1-6657 do ông Huỳnh Văn L điều khiển đi qua đường. Sau khi va chạm với xe mô tô thì tiếp tục va chạm vào căn nhà của ông Võ Quang T1 bên trong lề đường. Tai nạn xảy ra làm ông Huỳnh Văn L bị thương tích điều trị tại bệnh viện đa khoa Xuyên Á Thành phố Hồ Chí Minh thì tử vong; căn nhà của ông T1 bị hư hỏng diện tích 12,57 m².

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 42/KLGĐTT-TTPΥΤΝ, ngày 22-3-2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Ông Huỳnh Văn L bị tử vong do vỡ thận, dập lách, đa chấn thương.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, kết luận:

  • + Xe mô tô biển số 70M1-6657 có trị giá thiệt hại là 2.955.000 đồng.
  • + Xe ô tô biển số 70A-452.97 có trị giá thiệt hại là 338.973.400 đồng.
  • + Căn nhà tường bị hư hỏng có trị giá thiệt hại là 19.125.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 361.053.400 đồng.

Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSTrB, ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Nguyễn Minh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Bị cáo không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận chị Đỗ Thị B là chủ xe ô tô biển số 70A-452.97 đã bồi thường cho bà Huỳnh Thị T (đại diện hợp pháp của bị hại) số tiền 80.000.000 đồng và bồi thường cho ông Võ Quang T1 số tiền 26.600.000 đồng, bà T, ông T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị B không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại và tiền sửa xe ô tô biển số 70A-452.97 bị hư hỏng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Huỳnh Thị T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình điều tra bà T trình bày: Chị Đỗ Thị B đã bồi thường cho bà số tiền 80.000.000 đồng, bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và bà xin bãi nại cho bị cáo.

Bị hại ông Võ Quang T1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình điều tra ông T1 trình bày: Chị Đỗ Thị B đã bồi thường cho ông số tiền 26.600.000 đồng, ông không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Bị đơn dân sự chị Đỗ Thị B trình bày: Chị đã bồi thường cho bà Huỳnh Thị T (đại diện hợp pháp của bị hại) số tiền 80.000.000 đồng và bồi thường cho ông Võ Quang T1 số tiền 26.600.000 đồng. Chị không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại và tiền sửa xe ô tô biển số 70A-452.97 bị hư hỏng. Tiền sửa xe ô tô bị hư hỏng chị sẽ tự thỏa thuận giải quyết với công ty bảo hiểm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của Công ty.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Huỳnh Văn L là bà Huỳnh Thị T, bị hại ông Võ Quang T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11-11-2023, trên đường Quốc lộ 22, tại khu vực giao lộ thuộc khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Minh N điều khiển xe ô tô biển số 70A-452.97 đi không đúng phần đường quy định gây tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 70M1-6657 làm ông Huỳnh Văn L tử vong; gây thiệt hại về tài sản cho chị Đỗ Thị B và ông Võ Quang T1 có tổng trị giá là 361.053.400 đồng, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hành vi của bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng, tài sản của người khác. Bị cáo là tài xế đã tham gia chương trình đào tạo lái xe và có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng bị cáo đã không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ, đi không đúng phần đường quy định nên gây tai nạn giao thông, hậu quả làm ông L tử vong và gây thiệt hại về tài sản cho chị B và ông T1. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn để lại nỗi đau thương, mất mát cho người thân của ông L. Do đó, khi quyết định hình phạt cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tác động chị Đỗ Thị B là chủ xe ô tô biển số 70A-452.97 bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình ông L và ông T1, và được đại diện hợp pháp của ông L làm đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị B là chủ xe ô tô biển số 70A-452.97 đã bồi thường cho bà Huỳnh Thị T (đại diện hợp pháp của bị hại) số tiền 80.000.000 đồng và bồi thường cho ông Võ Quang T1 số tiền 26.600.000 đồng, bà T, ông T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị B không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại và tiền sửa xe ô tô biển số 70A-452.97 bị hư hỏng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về số tiền bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với xe ô tô biển số 70A-452.97 chị B yêu cầu tự thỏa thuận giải quyết với Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO), không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Khi nào chị B và Công ty bảo hiểm có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[8] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha, màu đen, biển số 70M1-6657, số máy C12E-1142137, số khung 12198Y142110 của ông Huỳnh Văn L, Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng đã trả lại cho bà Huỳnh Thị T (con ruột của ông L) và bà T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - Đối với 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu trắng, biển số 70A-452.97, số máy: 2NRY058681, số khung: RL4B23F34P5167286; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô biển số 70A-452.97 (Bản chính) Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng đã trả lại cho chị Đỗ Thị B là chủ sở hữu hợp pháp và chị B không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - Đối với bản chính 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số 7902211661003, mang tên Nguyễn Minh N không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 589, 591 của Bộ luật Dân sự.

    Ghi nhận chị Đỗ Thị B là chủ xe ô tô biển số 70A-452.97 đã bồi thường cho bà Huỳnh Thị T (đại diện hợp pháp của bị hại) số tiền 80.000.000 (Tám mươi triệu) đồng và bồi thường cho ông Võ Quang T1 số tiền 26.600.000 (Hai mươi sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng.

    Ghi nhận bà T, ông T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị B không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại và tiền sửa xe ô tô biển số 70A-452.97 bị hư hỏng.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • - Ghi nhận bà Huỳnh Thị T đã nhận lại 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha, màu đen, biển số 70M1-6657, số máy C12E-1142137, số khung 12198Y142110 của ông Huỳnh Văn L và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
    • - Ghi nhận chị Đỗ Thị B đã nhận lại 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu trắng, biển số 70A-452.97, số máy: 2NRY058681, số khung: RL4B23F34P5167286 và 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô biển số 70A-452.97 (Bản chính) và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh N bản chính 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số 7902211661003.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Phòng KTNV.TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Linh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh N vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ làm ông Huỳnh Văn L tử vong, thiệt hại tài sản của ông Võ Quang T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger