Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Mão và bà Phạm Thị Ngọc Nga

- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62 /2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Đức T sinh năm 1975 tại tỉnh Ninh Bình

Nơi thường trú: số nhà E, đường B, ngõ G, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: ngõ D, đường T, phố A, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; có vợ Vũ Thị Thanh H1 (đã ly hôn) và có 2 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1) . Tại bản án số 139/HSST ngày 29/7/2005, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình), tỉnh Ninh Bình xử phạt Phạm Đức T 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. (2). Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35 ngày 24/6/2017, Công an phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt Phạm Đức T cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Lý Văn M sinh năm 1986; nơi cư trú: số nhà B, đường X, phố Đ, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
  • + Anh Phan Anh T1 sinh năm 2001; nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng: anh Đặng Quốc H2 sinh năm 1986; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đức T là người nghiện ma túy. T có quan hệ tình cảm và sống chung với chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1975 tại phố A, phường N, thành phố N. Trong thời gian ở nhà chị Á để có ma túy H3 sử dụng và có tiền tiêu xài cá nhân, T đã mua ma túy H3 đem về nhà chị Á chia ra để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 8 giờ ngày 15/12/2023, T đi bộ từ nhà đến khu vực sau trụ sở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Bình thuộc phường N, thành phố N tìm mua ma túy về sử dụng và để bán kiếm lời. Tại đây, T mua được của một người đàn ông (T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) 04 gói ma túy Heroine có đặc điểm đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá tiền 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đi bộ về nhà lấy mỗi gói ma túy ra một ít để sử dụng sau đó cất 04 gói ma túy vào trong tủ quần áo. Trong các ngày 15/12/2023 và ngày 16/12/2023, T đã bán 04 gói ma túy trên cho Lý Văn M thành 2 lần, mỗi lần 2 gói. Việc mua bán ma túy giữa T và M, M đều sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh, lắp sim số 0941.762.135 để gọi đến số điện thoại 0913.174.xxx của T. Sau khi liên lạc, M đến nhà T để lấy ma túy và sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung để quay lại quá trình mua ma tuý cụ thể:

Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2023, khi T đang ở nhà thì M gọi điện cho T hỏi mua 02 gói ma túy Heroine với giá tiền 700.000 đồng. T đồng ý và hẹn M đến nhà để lấy ma túy. Sau khi nghe điện thoại của T, M thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết rồi chỉ đường để người lái xe ôm chở đến nhà T. Đến nơi, M nói người lái xe ôm chờ ngoài cổng rồi đi bộ vào trong nhà gặp T, M đưa cho T số tiền 700.000 đồng. T cầm tiền rồi đưa cho M 02 gói ma túy Heroine có đặc điểm đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. M cầm 02 gói ma túy đi ra chỗ người lái xe ôm đang chờ đi về nhà sau đó sử dụng một mình hết số ma túy này.

Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2023, T đang ở nhà thì M gọi điện cho T hỏi mua 02 gói ma túy Heroine với giá tiền là 700.000 đồng. T đồng ý và hẹn minh đến nhà để lấy ma túy. T lấy 02 gói ma túy còn lại đang cất giấu trong tủ quần áo, cầm ở tay phải đi ra ngoài cổng nhà để bán cho M. Sau khi gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy, M tìm người mượn tiền để mua ma túy nhưng nghĩ không mượn được ai nên M đi bộ đến điểm hẹn để nói với T là không mua ma túy nữa. Khi M đi đến cổng nhà gặp T thì bị Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an phường N đến kiểm tra. Do đang cầm 02 gói ma túy trên tay nên T khai nhận là ma tuý cầm để bán cho M là người đứng bên cạnh với giá tiền là 700.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra 02 gói nhỏ mà T đang cầm trên tay phải được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, sau đó niêm phong trong phong bì ký hiệu Q1 theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trong phong bì niêm phong ký hiệu Q3 và số tiền 240.000 đồng. Thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen.

Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Phạm Đức T có khối lượng là 0,1470 gam. Sau khi cân chất tinh thể màu trắng này được bỏ vào một túi nilon màu trắng ký hiệu M gửi đến cơ quan giám định để xác định khối lượng ma túy, loại ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 40/KL-KTHS-MT ngày 22/12/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1470 gam là ma túy, loại Heroine. Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

H4 lại đối tượng giám định gồm mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,0847 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 40/KL-KTHS-MT.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã xử lý như sau:

  • - Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án: 0,0847 gam là ma túy, loại Heroine số ma túy còn lại sau giám định, 02 mảnh giấy bạc màu trắng và toàn bộ bao gói niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim số 0913.174.398 và số tiền 240.000 đồng thu giữ của Phạm Đức T; sim số điện thoại 0941.762.xxx thu giữ của Lý Văn M.
  • - Trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của Lý Văn M.

Cáo trạng số 42/CT-VKSNDTPNB ngày 25/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2023.
  • Phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
  • + Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy 0,0847 gam ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định, 02 mảnh giấy bạc màu trắng và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; sim số điện thoại 0941.762.xxx.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim số 0913.174.3980
  • Truy thu bị cáo Phạm Đức T số tiền 460.000 đồng do bán ma túy trái phép mà có.
  • + Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo bị xét xử phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đức T đã khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 15/12/223 tại nhà chị Á ở phố A, phường N, thành phố N bị cáo có bán trái phép 02 gói ma túy Heroine với giá tiền 700.000 đồng cho anh M. Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2023 tại cổng nhà chị Á bị cáo T đang cầm 02 gói ma túy Heroine trên tay phải để bán cho M thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Văn M khai báo: ngày 15/12/2023 bị cáo T đã bán cho anh M 02 gói ma túy với giá 700.000 đồng tại phố A, phường N và anh M đã sử dụng hết. Ngày 16/12/2023 anh M điện cho bị cáo T mua ma túy thì bị cáo T đồng ý. Sau đó do không vay được tiền nên anh M đi đến nhà bị cáo T để nói không mua ma túy nữa thì gặp lực lượng Công an ở cổng nhà T. Bị cáo T đã giao nộp 2 gói ma túy đang cầm ở tay phải cho Công an.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Anh T1 khai báo: anh T1 đăng ký và sử dụng số thuê bao điện thoại 0941.762.xxx từ tháng 7/2023 đến đầu tháng 12/2023 thì không sử dụng nữa do bị rơi mất sim. Anh đã đi đăng ký sử dụng sim điện thoại khác và không yêu cầu nhận lại sim 0941.762.135.

Trong quá trình điều tra, người chứng kiến anh Đặng Quốc H2 khai báo: ngày 16/12/2023 tại ngõ D, đường T, phố A, phường N, thành phố N anh thấy cơ quan Công an kiểm tra và bắt giữ hai người đàn ông là Phạm Đức T và Lý Văn M. T khai nhận đang cầm ma túy ở tay phải đế mang ra bán cho M với giá 700.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện.

Bị cáo T không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai tại phiên tòa của bị cáo Phạm Đức T phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Trong các ngày 15/12/2023 và 16/12/2023 Phạm Đức T đã có hành vi 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Lý Văn M, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2023 tại nhà chị Nguyễn Thị Á ở ngõ D, đường T, phố A, phường N, thành phố N, Phạm Đức T có hành vi bán trái phép cho Lý Văn M 02 gói ma túy Heroine với số tiền 700.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2023 tại ngõ D, đường T, phố A, phường N, thành phố N, Phạm Đức T có hành vi cất giấu trái phép 02 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1470 gam mục đích để bán cho Lý Văn M thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ chất ma tuý bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi vủa bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước và là nguyên nhân phát sinh của nhiều tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo Phạm Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy cáo trạng số 12/CT-VKSNDTPNB ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251. Tội Mua bán trái phép chất ma tuý

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Sau khi phạm tội bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 và được hưởng chính sách như thương binh. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” đã được xóa án tích và 1 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đã được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Sau khi xem xét về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung. Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo T bán ma túy với mục đích thu lời bất chính. Tuy nhiên bị cáo T không có tài sản, từ tháng 10/2023 do sức khỏe yếu bị cáo không có thu nhập và phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của Lý Văn M là của anh Nguyễn Văn H5 sinh năm 1995, trú tại thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Ngày 14/12/2023, anh H5 cho M mượn chiếc điện thoại nhãn hiệu Itel cùng sim để liên lạc và đưa cho M chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen nhờ M đi sửa. Anh H5 không biết M sử dụng điện thoại cùng sim của mình để liên lạc trao đổi và quay lại quá trình mua bán ma túy, do đó không liên quan đến hành vi vi phạm tội của M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại cho anh H5 02 chiếc điện thoại nói trên là đúng quy định.
  • - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử lý các vật chứng còn lại như sau:
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim số 0913.174.398 của Phạm Đức T sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với M.
  • + Tịch thu tiêu hủy 0, 0847 gam là ma túy, loại Heroin và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì số 40/KL-KTHS-MT; 02 mảnh giấy bạc màu trắng và vỏ phong bì Q1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu B; 01 phong bì ký hiệu Q3; vỏ phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu T là vật không có giá trị sử dụng; sim số điện thoại 0941.762.xxx và 02 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu Q4, D được niêm phong trong 01 phong bì do anh Phan Anh T1, chủ thuê bao sim số 0941.762.135 không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.
  • + Ngày 15/12/2023, bị cáo T bán cho anh M 02 gói ma túy với số tiền 700.000 đồng. T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết 460.000 đồng còn lại 240.000 đồng T chưa sử dụng thì bị Cơ quan Công an thu giữ. Do đó tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 240.000 đồng thu giữ và buộc bị cáo Phạm Đức T phải nộp lại số tiền 460.000 đồng do bán ma túy trái phép mà có.

[4] Các vấn đề khác:

  • - Về nguồn gốc số ma túy: bị cáo T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.
  • - Trong vụ án này Lý Văn M có hành vi ngày 16/12/2023 hẹn mua ma túy của bị cáo T, sau đó không vay được tiền nên M đã đi đến điểm hẹn để nói với bị cáo T không lấy ma túy nữa. Khi gặp nhau thì bị cáo T cũng chưa đưa ma túy cho M nên không đủ căn cứ để xử lý đối với M. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của minh ngày 15/12/2023 ngoài lời khai của M không có tài liệu nào khác chứng minh việc M sử dụng ma túy nên không đủ căn cứ xử lý M về hành vi” Sử dụng trái phép chất ma túy”.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo

  • - Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo T bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  • - Quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người than gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2023.

  2. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
    • + Tịch thu tiêu hủy 0, 0847 gam là ma túy, loại Heroin và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì số 40/KL-KTHS-MT; 02 mảnh giấy bạc màu trắng và vỏ phong bì Q1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu B; sim điện thoại có số thuê bao 0941.762.135 và 02 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu Q4, D được niêm phong trong phong bì; 01 vỏ phong bì ký hiệu Q3; vỏ phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bên trong lắp sim số 0913.174.3980 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T; số tiền 240.000 đồng ( hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
    • + Buộc bị cáo Phạm Đức T phải nộp lại số tiền 460.000 đồng (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) do bán ma túy trái phép mà có.

    (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/ 2024 và ủy nhiệm chi số 64 ngày 01/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình) .

  3. Về án phí: bị cáo Phạm Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
  4. Quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger