Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70 /2024/HS-ST

Ngày 24 - 5 - 2024

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sương và bà Y Blư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng C, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1972 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C1 và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1975 và 03 con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân tốt. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Xuân T1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1977 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Kon Tum; nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T2 và bà Hoàng Thị T3 (đều đã chết); có vợ là Y D, sinh năm 1986, sống chung như vợ chồng với chị Y T4, sinh năm 1994 và có 01 con chung sinh năm 2017; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân xấu. Ngày 29 tháng 11 năm 1997, bị Công an thị xã K, tỉnh Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Đã được xóa tiền sự). Ngày 03 tháng 6 năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Anh Trần Quang H, sinh năm 1980 (có đơn xin xử vắng mặt).
  2. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1984 (có đơn xin xử vắng mặt).

Cùng trú tại: Tổ C, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Quốc K, sinh năm 1961.

Trú tại: Thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối năm 2023, Nguyễn Xuân T1 quen biết với Nguyễn Hoàng C và đến ở cùng với C tại thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Trong thời gian này, Nguyễn Hoàng C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản ở các rẫy gần nhà để bán lấy tiền tiêu xài nên đã rủ Nguyễn Xuân T1 cùng thực hiện, T1 đồng ý và cùng với C chuẩn bị các công cụ gồm 01 kìm có cán bọc nhựa màu đỏ, 01 cây nhổ đinh dài 60cm, 01 cây rựa cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại dài 50cm để trộm cắp tài sản. Nguyễn Hoàng C cùng Nguyễn Xuân T1 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại các rẫy gần nhà C. Để tránh bị phát hiện C và T1 thường trộm cắp tài sản trong khoảng thời gian từ 8 đến 9 giờ, khi mọi người đã đi làm hết. Việc trộm cắp được thực hiện nhiều lần, sau khi lấy được tài sản C và T1 chia nhỏ số tài sản để bán nhiều lần, bán cho nhiều người thu mua phế liệu dạo khác nhau, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào tháng 11 năm 2023, Nguyễn Hoàng C cùng Nguyễn Xuân T1 mang theo kìm và cây nhổ đinh đi đến nhà rẫy của ông Trần Quang H (sát bên cạnh nhà bị cáo C) tại thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum để trộm lưới B40. C đứng cảnh giới, còn T1 dùng kìm cắt 40m² lưới B40 ở hàng rào xung quanh nhà ông H, cắt trong khoảng 01 tuần liên tục, mỗi ngày cắt một ít, ngày nào cũng cắt. Sau khi cắt xong, T1 cuộn lưới lại thành từng cuộn nhỏ, rồi mang vào nhà ông C cất giấu. Khi có người mua phế liệu đi ngang qua thì bán với giá dao động 5000-6000đ/kg và chia nhỏ thành nhiều lần bán khác nhau, không nhớ cụ thể số tiền mỗi lần bán. Số tiền có được C và T1 cùng nhau tiêu xài hết.

Lần thứ hai: Vào tháng 11 năm 2023, C cùng T1 tiếp tục mang theo kìm và cây nhổ đinh đi đến nhà rẫy của ông Trần Quang H trộm cắp tài sản. C đứng cảnh giới, T1 dùng bẫy nhổ đinh cạy phá lấy 01 bộ cửa sổ bên hông nhà và khung bảo vệ + lưới B40 trong khung bảo vệ phía trước sân nhà của ông H. Sau khi lấy được tài sản thì mang về nhà ông C cất giấu, chia thành nhiều lần và bán cho người mua phế liệu dạo, không nhớ cụ thể số tiền mỗi lần bán. Số tiền có được C và T1 cùng nhau tiêu xài hết.

Lần thứ ba: Vào tháng 11 năm 2023, C cùng T1 tiếp tục mang theo kìm và cây nhổ đinh đi đến nhà rẫy của ông Trần Quang H để trộm cắp tài sản. C đứng cảnh giới, còn T1 dùng cây nhổ đinh cạy phá bộ cửa cổng + lưới B40 chắn lối vào sân nhà. T1 và C đưa số tài sản trên về nhà của C cất giấu rồi bán cho người đi mua phế liệu dạo, lấy tiền cùng nhau tiêu xài hết.

Lần thứ tư: Vào tháng 11 năm 2023, C cùng T1 tiếp tục mang theo kìm và cây nhổ đinh đi đến nhà rẫy của ông Trần Quang H để trộm cắp tài sản. C đứng cảnh giới, còn T1 dùng kìm, cây nhổ đinh cạy phá cửa cổng chính (khung sắt + tôn) mang về nhà bị cáo C cất giấu. Sau đó bán cho người thu mua phế liệu dạo, số tiền bán được T1 và C cùng nhau tiêu xài hết.

Lần thứ năm: Vào tháng11 năm 2023, C cùng T1 tiếp tục mang theo kìm và cây nhổ đinh đi đến nhà rẫy của ông Trần Quang H để trộm cắp. C đứng cảnh giới, còn T1 dùng kìm, cây nhổ đinh cạy phá cửa chính (cửa vào nhà) của nhà ông H đưa về nhà ông C cất giấu. Sau đó bán cho người thu mua phế liệu dạo, số tiền bán được T1 và C cùng nhau tiêu xài hết.

Lần thứ sáu: Vào tháng 11 năm 2023, C cùng T1 mang theo kìm, cây nhổ đinh và rựa đi đến nhà rẫy của ông Dương Quốc K (đối diện nhà của Hoàng C) tại thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. C đứng cảnh giới, còn T1 dùng kìm cắt 40m lưới B40 của hàng rào (cắt trong 03 ngày liên tục mỗi ngày cắt một ít, ngày nào cũng cắt). Sau khi cắt lưới xong, T1 dùng rựa phát quang cây rậm và lấy lưới B40 ra, cắt thành từng đoạn nhỏ, cuốn lại. Sau đó, T1 và C mang số lưới lấy trộm được về nhà của C cất giấu, rồi bán cho người đi mua phế liệu dạo, lấy tiền cùng nhau tiêu xài hết.

Lần thứ bảy: Vào ngày 07 và 08/12/2023, C cùng T1 tiếp tục mang theo kìm, cây nhổ đinh và rựa đi đến nhà rẫy của ông Dương Quốc K để trộm cắp tài sản. C đứng cảnh giới, còn T1 dùng kìm cắt lưới B40 của hàng rào. Sau khi cắt lưới xong, T1 dùng rựa phát quang cây rậm và lấy lưới B40 ra cuốn lại. Ngày 07/12/2023, C cùng T1 cắt được 05m lưới B40 sau khi cắt xong thì mang về nhà ông C cất giấu và bán cho người thu mua phế liệu dạo, không nhớ rõ bán được bao nhiêu tiền. Vào ngày 08/12/2023, C cùng T1 cắt được 05m lưới B40. T1 và C mang số lưới trên về nhà của C cất giấu, chưa kịp bán thì bị Công an xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum phát hiện, thu giữ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐ ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố K kết luận: Đối với lưới B40 mua vào năm 2013, đến thời điểm bị chiếm đoạt đã hết thời gian khấu hao theo quy định (có giá trị thu hồi phế liệu). Do đó, Hội đồng định giá tài sản không tiến hành định giá tài sản này.

Các tài sản còn lại được định giá như sau:

  • 40 m lưới B40 mua vào năm 2021 giá trị còn lại là: 3.920.000 đồng.
  • 20 m² (khung sắt + lưới B40) mua vào năm 2021 giá trị còn lại là: 3.500.000 đồng.
  • 3,52 m²(khung sắt + lưới B40) mua vào năm 2021 giá trị còn lại là: 911.400 đồng.
  • 4,32 m² (khung sắt + lưới B40) mua vào năm 2022 giá trị còn lại là: 4.147.200 đồng.
  • 2,42 m² (khung sắt + tôn) mua vào năm 2022 giá trị còn lại là: 1.742.400 đồng.
  • 0,88 m² (khung sắt + tôn) mua vào năm 2022 giá trị còn lại là: 224.800 đồng.

Tổng giá trị tài sản còn lại tính đến thời điểm bị chiếm đoạt là: 14.445.800 đồng.

*Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKSTPKT ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 cùng về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C từ 12 đến 15 tháng từ,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 từ 13 đến 16 tháng tù.

Các bị cáo không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

*Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.

*Về xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã trả lại 01 cuộn lưới B40 (đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu hợp pháp ông Dương Quốc K là đúng pháp luật nên không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 kìm có cán bọc nhựa màu đỏ; 01 cây nhổ đinh, dài 60cm; 01 cây rựa cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại dài 50 cm.

* Về án phí: Đề Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 ; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của ông Dương Quốc K, do chưa đủ cấu thành tội phạm nên cơ quan chức năng đã xử phạt vi phạm hành chính đối với các bị cáo là phù hợp.

Đối với những người thu mua phế liệu dạo đã mua lại các tài sản do các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 trộm cắp được, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là đúng pháp luật.

Ý kiến của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:

Trong tháng 11 năm 2023, tại nhà rẫy của vợ chồng ông Trần Quang H và bà Trần Thị H1 ở thôn K, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum, Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu khi để tài sản trong nhà không có ai trông coi, nên đã lén lút nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm lưới B40, khung bảo vệ sân nhà, cổng, cửa sổ, cửa chính của ông H và bà H1, có tổng giá trị là 14.445.800 đồng.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ngoài ra, trong tháng 11 và các ngày 07, 08 tháng 12 năm 2023, các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác gồm 50m lưới B40 tại rẫy của ông Dương Quốc K. Tuy nhiên, vì giá trị tài sản trộm cắp đến thời điểm bị chiếm đoạt đã hết thời gian khấu hao theo quy định (có giá trị thu hồi phế liệu), Hội đồng định giá tài sản không tiến hành định giá tài sản này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K không xử lý hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mà đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 về hành vi “Trộm cắp tài sản” là đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Xét thấy : Hành vi phạm tội nhiều lần liên tục trong thời gian ngắn của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật và bản chất lười lao động mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân, là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị ngăn chặn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Nguyễn Xuân T1 đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, trong đó có 03 lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự hiện hành.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự hiện hành đối với các bị cáo để các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Về cá thể hóa trách nhiệm hình sự giữa các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự câu kết và tổ chức, phân công chặt chẽ. Trong tất cả các lần gây án, bị cáo C là người khởi xướng, định hướng chuẩn bị công cụ gây án và cảnh giới; bị cáo T1 là người thực hành, đi mua công cụ theo gợi ý của bị cáo C và thực hiện hành vi trộm cắp. Như vậy, bị cáo C có vai trò tích cực hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1 để đảm bảo sự công bằng của pháp luật.

Về nhân thân, bị cáo C có nhân thân tốt. Còn bị cáo T1 có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính năm 1997 và 01 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” năm 2020 (đã được xóa tiền sự và xóa án tích) nhưng bị cáo không có khả năng tự cải tạo mà còn phạm tội liên tục nhiều lần trong thời gian ngắn. Đây là yếu tố để Hội đồng xét xử đánh giá khả năng cải tạo của các bị cáo khi lượng hình. Như vậy, cân nhắc giữa vai trò, tính chất, mức độ phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thì 02 bị cáo này có mức án không chênh lệch nhau nhiều.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về tình tiết khác:

Đối với những người thu mua phế liệu dạo đã mua lại các tài sản do các bị cáo Nguyễn Hoàng C và Nguyễn Xuân T1 trộm cắp được, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là đúng pháp luật.

[9] Về vật chứng vụ án:

Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã trả lại 01 cuộn lưới B40 (đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu hợp pháp - ông Dương Quốc K đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại.

Đối với 01 kìm có cán bọc nhựa màu đỏ; 01 cây nhổ đinh, dài 60cm; 01 cây rựa cán bằng tre, lưỡi bằng kim loại dài 50 cm. Đây là các công cụ mà 02 bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoàng CNguyễn Xuân T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 07/02/2024).

3. Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Tịch thu, tiêu hủy 01 kìm cán bọc nhựa màu đỏ; 01 cây nhổ đinh, dài 60cm đã qua sử dụng; 01 dao rựa lưỡi bằng kim loại, cán bằng tre dài 50 cm.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum).

4. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng CNguyễn Xuân T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/5/2024), các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Nếu những người nói trên vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND Tp. Kon Tum;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Kon Tum;
  • - Bộ phận HSNV Công an Tp. Kon Tum;
  • - Chi cục THADS Tp. Kon Tum;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lu HSVA; văn thư lưu trữ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phương Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger