Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-PT

Ngày: 23-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Duy Hải.

- Các Thẩm phán: ông Trần Quang Cường và ông Ngô Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 90/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Chu Văn H và bị cáo Vũ Văn K do có kháng cáo của bị cáo Chu Văn H và bị cáo Vũ Văn K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Chu Văn H, sinh ngày 12/11/1998 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Văn X và bà: Trần Thị T; vợ, con: chưa có; tiền sự: chưa; tiền án: ngày 13/4/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” đến ngày 19/11/2022 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
  2. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

  3. Họ và tên: Vũ Văn K, sinh ngày 07/01/1995 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn L (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
  4. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn K: Ông Nguyễn Sỹ A – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, vắng mặt.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Xuân T1 có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng đã rút toàn bộ kháng cáo trước khi mở phiên toà, nên Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1 nên không triệu tập.

- Ngoài ra còn có 03 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

- Người làm chứng: Anh Dịp A V, sinh năm 1996, chị Vũ Ngọc Á, sinh năm 2003, chị Bế Thu U, sinh năm 1995, chị Cồ A S, sinh năm 2002, anh Trần Quốc V1, sinh năm 1991, chị Vũ Thị T2, sinh năm 1984, văng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lê Triệu C, sinh năm 1994, anh Ngô Bá H1, sinh năm 1980 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Trọng K1, Nguyễn Trung H2, Lạc Văn Q, Vũ Văn K là bạn bè ngoài xã hội. Tối ngày 20/01/2024 K1, K, H2, Q và anh D A V đi ăn áp rạp đám cưới tại nhà anh Vy Văn H3 ở thôn T, xã T, huyện Đ, sau đó K1 đi về trước. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày K, H2, Q và anh V rủ nhau đi hát tại quán K2 thuộc phố T, thị trấn Đ, huyện Đ. Khi đến K liên hệ thì được chủ quán bố trí phòng hát số C, K gọi thêm 04 nhân viên nữ để phục vụ rót bia, bấm bài gồm: chị Vũ Ngọc Á, chị Bế Thu U, chị Cồ A S và chị Lý Phương A1. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, K1 đến quán cùng hát và uống bia cùng mọi người. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì K1 nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng để tăng hưng phấn, kích thích nghe nhạc và nhày nên đã rủ K, Q, H2 và anh V góp tiền mua ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc để sử dụng, K1 là người ứng tiền ra mua ma túy trước, sau đó sẽ chia đều cho mọi người để trả lại cho K1, thì H2, Q, K đồng ý, còn anh V không đồng ý. Sau khi bàn bạc thống nhất xong, K1 gọi điện cho Nguyễn Xuân T1 đến nhờ mua hộ ma túy. Do biết Chu Văn H có ma túy bán và nếu có khách nào cần mua thì giới thiệu cho H bán, H sẽ trả công nên T1 sử dụng điện thoại và tài khoản Facebook của K1 là “Gấu Khù Khờ” gọi qua phần mềm M cho tài khoản “H” của Chu Văn H để mua 05 viên ma túy thuốc lắc và 03gam ma túy Ketamine, với giá 500.000 đồng/01 viên ma túy thuốc lắc và 2.000.000 đồng/01gam ma túy Ketamine. T1 bảo K1 đưa tiền mặt nhưng do không có tiền mặt nên K1 gọi điện cho H đến. Tại đây, K1 đã chuyển số tiền 8.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của K1 vào tài khoản ngân hàng của H. Sau khi nhận được tiền, H quay về lấy 03 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc màu xanh mang đến. Khi đến, T1 ra gặp H và nói nhờ có T1 giới thiệu nên H mới bán được số ma túy trên nên H phải chia tiền lãi cho T1. H đồng ý và hứa sẽ cho T1 350.000 đồng. Sau đó, H được K1 mời ở lại cùng sử dụng ma túy và nhờ H pha chế ma túy cho mọi người cùng sử dụng. H lấy 01 viên ma túy thuốc lắc nghiền nhỏ pha với nước Cocacola rồi đổ ra 03 cốc nhựa đưa cho mọi người trong phòng hát uổng, trong đó có K, T1, H2, Phương A1 thay nhau uống, còn K1 cầm 01 cốc nước đã pha ma túy nhưng chưa uống mà để ở trên bàn. H tiếp tục bè nhỏ 01 viên thuốc lắc chia ra thành 4-5 mảnh nhỏ rồi lấy 01 mảnh tự nuốt vào bụng, một số người khác trong đó có T1, Á cũng lấy các mảnh ma túy mà H cầm để sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 21/01/2024, thấy còn thừa 01 viên và 01 mảnh vụn ma túy thuốc lắc chưa sử dụng hết nên H đã gói vào giấy vệ sinh cất vào trong túi quần trước bên trái rồi đi ra ngoài định đi về lấy tiếp 03 gam ma túy Ketamine bán cho K1 thì bị Công an huyện Đ đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của H 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 02 viên nén màu xanh, kích thước (KT) (0,6x0,8)cm và (0,6x0,4)cm. Kiêm tra trong phòng hát số 3 phát hiện thu giữ trên sàn phòng hát 01 mảnh viên nén màu xanh có KT (0,5x0,4)cm nghi là ma túy; thu giữ trên bàn phòng hát 03 chiếc cốc nhựa đường kính 07cm, cao 08cm, trong đó 01 cốc bên trong có bám dính chất cặn màu xanh, 02 cốc nhựa còn lại bên trong có chứa chất lòng màu xanh.

Khám xét chỗ ở của Chu Văn H, Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ trong chiếc giày để trên kệ giày và trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của H, gồm:

  • + 01 túi nilon màu trắng KT (13x7,5)cm, miệng túi có gờ nhựa để đóng mở, bên trong túi có 17 túi nilon KT mỗi túi (03x03)cm màu trắng, miệng túi có viền xanh và gờ nhựa, bên trong mỗi túi có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
  • + 02 túi nilon màu trắng KT mỗi túi (8,5x5)cm, miệng túi có viền màu đỏ, gờ nhựa để đóng mở, bên trong mỗi túi có 10 viên nén KT mỗi viên (1,5x1,3)cm màu xanh, hình ngũ giác, nghi là chất ma túy (tổng cộng 20 viên).
  • + 30 vỏ túi nilon màu trắng KT mỗi túi (2,5x2,5)cm, miệng túi có viền màu đỏ và gờ nhựa để đóng mở.
  • + 44 túi vò nilon màu trắng, KT mỗi túi (3,0x3,0)cm, miệng túi có viền xanh và gờ nhựa để đóng mở.

Tại các bản Kết luận giám định số 180/KL-KTHS và số 181/KL-KTHS ngày 27/01/2024, của Phòng K3 Công an tỉnh Q, kết luận: 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh thu giữ tại phòng hát karaoke Đức Nam, 01 viên nén màu xanh hình ngũ giác và 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh trong giấy gói vệ sinh màu trắng thu giữ của Chu Văn H ngày 21/01/2024; 20 viên nén màu xanh hình ngũ giác trong 02 túi nilon kích thước (5,5x9)cm thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà, nơi ở của Chu Văn H ngày 21/01/2024 đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng là 10,927 gam. Chất tinh thể màu trắng trong 15 túi nilon kích thước (3x3)cm và 02 túi nilon kích thước (3x3,5)cm thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà, nơi ở của Chu Văn H ngày 21/01/2024 đều là ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng là: 14,02 gam. Tìm thấy chất ma túy MDMA trong 01 chiếc cốc nhựa đường kính miệng cốc 07cm, khối lượng dạng vết không xác định được và 02 cốc nhựa đường kính miệng cốc 07cm bên trong có chứa chất lòng màu xanh, bám dính chất cặn màu xanh có thể tích lần lượt là (03ml và 12ml). Tìm thấy chất MDMA và Dehydronorketamine trong nước tiểu của Chu Văn H, Vũ Ngọc Á; tìm thấy chất ma túy MDMA trong nước tiểu của Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Trung H2, Vũ Văn K, Lý Phương Al; không tìm thấy chất ma túy Amphetamine, M1, MDMA, Ketamine, Heroine, C và các sản phẩm chuyển hóa khác của ma túy trong nước tiểu của Dịp A, Lạc Văn Q, Lương Trọng K1, Bế Thu U, Cồ A S. (Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của Ketamine trong nước tiểu).

Quá trình điều tra, Chu Văn H và Vũ Văn K, đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, H còn khai: Nguồn gốc số ma túy H bán cho nhóm của K1 và số ma túy bị thu giữ khi khám xét tại nhà là của H mua của một người đàn ông tên là C1 khoảng 25-26 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) tại một quán Bar ở thành phố H vào ngày 17/01/2024. Tổng cộng H mua của C1 20 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc với giá 250.000 đồng/viên, 15 gam ma túy Ketamine với giá 1.400.000 đồng/gam hết 21.000.000 đồng và được C1 khuyến mại thêm 03 viên thuốc lắc. Số ma túy trên, H mua về nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 14/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào:

  • - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Văn H 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 08 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt của hai tội mà bị cáo phải chịu là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.
  • - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn K 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án; các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/8/2024 bị cáo Vũ Văn K làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là quá nặng.

Ngày 25/8/2024 bị cáo Chu Văn H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã có thời gian tham gia quân ngũ được tặng danh hiệu: “Chiến sĩ tiên tiến” và có bố đẻ đã từng tham gia dân công hoả tuyến.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp đơn kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Chu Văn H và bị cáo Vũ Văn K làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại Quyết định số 25/2024/HSPT-QĐ ngày 14/10/2024, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1 do bị cáo tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét về nội dung này.

Về việc vắng mặt người bào chữa: ngày 18/10/2024, người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn K có đơn đề nghị hoãn phiên toà với lý do: ngày 12/10/2024 mới nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử ghi ngày 09/10/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh để tham gia phiên toà xét xử bị cáo K vào ngày 23/10/2024 nên không kịp thời gian chuẩn bị và sắp xếp công việc nên không thể tham gia phiên toà xét xử bị cáo K được, Hội đồng xét xử xét thấy lý do xin hoãn phiên toà của người bào chữa cho bị cáo K không phải là bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan nên không được chấp nhận, tại phiên toà bị cáo K đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử khi vắng mặt người bào chữa

[2] Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Chu Văn H và bị cáo Vũ Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu; các bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng tội, không oan, các bị cáo không thắc mắc gì về tội danh. Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: hành vi phạm tội của bị cáo Chu Văn H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm điểm b khoản 2 Điều 255; điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn K bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an ninh xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo H và K, là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, mua bán, sử dụng nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân, muốn kiếm tiền nhanh mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

- Đối với bị cáo Chu Văn H: tại cấp phúc thẩm bị cáo H đã nộp cho Toà án các giấy tờ, tài liệu thể hiện bị cáo đã từng có thời gian tham gia quân ngũ, được tặng danh hiệu: “Chiến sĩ tiên tiến” và có bố đẻ là người đã từng tham gia dân công hoà tuyến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm, nên cấp phúc thẩm sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo. Đối với lý do xin giảm nhẹ hình phạt là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cài đã được cấp sơ thẩm xem xét đánh giá nên cấp phúc thẩm không xem xét lại.

Nhận thấy, bị cáo H đã có 01 tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo chưa thực sự hối cải; đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo H là người giúp sức tích cực nhất, giữ vai trò thứ 2 trong vụ án nên Toà sơ thẩm xử bị cáo 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp; đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã là người giữ vai trò đầu, lượng ma tuý bị cáo đã bán và bị thu giữ là trên 10 gam MDMA và 14,02 gam Ketamine, đối chiếu lượng ma tuý này với lượng ma tuý quy định mức hình phạt tối thiểu tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, thì mức hình phạt 08 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo là phù hợp. Do đó mặc dù tại cấp phúc thẩm bị cáo H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về các tội danh mà cấp sơ thẩm đã quyết định.

- Đối với bị cáo Vũ Văn K: Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt 06 năm 06 tháng mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo K là đã xem xét khi lượng hình, tại phiên toà phúc thẩm gia đình bị cáo nộp cho Toà án: 01 đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương về việc mẹ bị cáo sống cùng với bị cáo, hai mẹ con nương tựa lẫn nhau, bị cáo K là lao động chính trong gia đình và Biên bản giám định y khoa thể hiện bị cáo K đã từng làm công nhân tại Công ty T3, trong quá trình lao động bị tai nạn lao động: chấn thương bàn chân phải, cụt ngón I, cụt 1/3 xương bàn ngón I chân phải, hạn chế vận động bàn chân phải, với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là 18%. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm, nên cấp phúc thẩm sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo K có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có trình độ văn hoá thấp và phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo H không được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo K được chấp nhận nên bị cáo K không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Văn H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Chu Văn H.

    Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Văn H 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.

  2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn K, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Vũ Văn K: giảm mức hình phạt cho bị cáo.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn K 06 (sáu) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.

  3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Chu Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Vũ Văn K không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CA, VKS, TAND, Chi cục THADS
  • huyện Đầm Hà;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 70/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Văn Hưng 07 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn Khánh 06 (sáu) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger