|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và ông Phạm Ngọc Minh
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13/3/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Kiều Kim C – Sinh năm: 1998 - Có mặt.
Bị đơn: anh La Ngọc H – Sinh năm: 1995 – Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Kiều Kim Chu trình bày:
Chị Chu và anh La Ngọc H kết hôn tự nguyện năm 2016, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã P theo giấy chứng nhận kết hôn số 160 ngày 24/11/2016. Trong thời kỳ hôn nhân, có một người con chung là cháu La Ngọc L - Sinh ngày: 06/02/2017, tài sản chung không có.
Theo phong tục người Chăm thì sau khi kết hôn anh H về nhà chị C sinh sống. Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, anh H tự ý bỏ về nhà cha mẹ ở từ tháng 12 năm 2020 đến nay. Từ khi bỏ về nhà cha mẹ ở, anh H không còn quan tâm tới chị C và con chung. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đối với bị đơn:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh La Ngọc H.
Về con chung: Yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H phải chu cấp tiền nuôi con;
Về tài sản chung, nợ chung: không có và không yêu cầu giải quyết.
2. Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, không có mặt theo giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến trình bày về việc khởi kiện.
3. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bị đơn được triệu tập đến lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” của nguyên đơn chị Kiều Kim C đối với bị đơn anh La Ngọc H; buộc chị Kiều Kim C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh La Ngọc H được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiến bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh La Ngọc H.
[2]. Xét yêu cầu được ly hôn với với anh La Ngọc H của chị Kiều Kim C thấy:
Có đủ căn cứ xác định; Trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp, chị C và anh H có xảy ra mâu thuẫn, anh H tự ý sống cách xa chị C từ năm 2020 cho đến nay.
Xét vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ thực hiện các công việc trong gia đình. Việc anh H tự ý sống cách xa chị C từ năm 2020 cho đến nay đã vi phạm nghĩa vụ giữa vợ, chồng làm cho hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh H.
[3]. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con khi ly hôn của chị Kiều Kim C thấy:
Từ khi sống cách xa nhau năm 2020 cho đến nay, chi Chu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên La Ngọc L - sinh ngày: 06/02/2017 đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, chị khi ly hôn chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi con là có căn cứ chấp nhận. Do chị C không yêu cầu anh H phải chu cấp tiền nuôi con nên không xem xét.
[2.3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử lý về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận cho chị Kiều Kim C được ly hôn với anh La Ngọc H.
- Giao con chung là cháu: La Ngọc L - sinh ngày: 06/02/2017 cho chị Kiều Kim C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: chị Kiều Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Kiều Kim C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001194 ngày 12-3-2024, chị Kiều Kim C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 22/8/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Tùng |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
