Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/DS-ST

Ngày: 14-8-2024

V/v tranh chấp

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Minh
  2. Bà Trần Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 7 và ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024, về việc “tranh chấp QSD đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 18/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024; Thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa số 528/TB-TA ngày 06 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Mai H, sinh năm 1972.
  2. Địa chỉ: C T, khóm B, phường D, Tp ., Đ.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Trần Mai H là luật sư Hồ Thị Xuân H1 – Văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ.

  3. Bị đơn: Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1975.

2

Địa chỉ: B, ấp P, xã T, Tp ., Đ.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Mai H trình bày:

Thửa đất 1273, tờ bản đồ số 25, diện tích 191,7m² có nguồn của cha mẹ bà H cho bà H quản lý sử dụng và được Sở Tài nguyên Môi trường cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 05/5/2020.

Quá trình quản lý sử dụng, năm 2020 Nhà nước mở rộng đường K, thu hồi đất của bà H khoảng 50m². Sau khi mở rộng đường, thì thửa đất 1273 của bà H có chiều ngang 10m tiếp giáp đường K cùng L.

Năm 2020, sau khi mở đường ông Phạm Văn H2 cho rằng, ông H2 còn phần diện tích đất khoảng 56m² (thuộc thửa số 468, tờ bản đồ 25, chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất), tiếp giáp thửa đất 1273 của bà H2 nên ông H2 tự ý làm hàng rào lưới B40 lấn sang phần đất của bà H2 chiều ngang giáp đường 08m x dài 07m = 56m².

Khi ông H2 làm hàng rào bà H2 biết được và có ngăn cản nhưng ông H2 xác định đất tranh chấp là của ông H2 nên ông H2 làm rào lưới B40 xung quanh và các bên phát sinh tranh chấp.

Đối với ý kiến ông H2 cho rằng năm 2021, ông H2 làm hàng rào lưới B40 không có ai tranh chấp là không đúng, khi đó bà H2 có ngăn cản việc ông H2 làm hàng rào, bằng hình thức gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã T giải quyết, kết quả hòa không thành và ông H2 tiếp tục làm hàng rào hoàn thành.

Phần đất tranh chấp cách đây khoảng 30 năm, ông Trần Văn L cha của bà H2 có trồng 03 cây dừa, năm 2020 bà H2 san lấp cát và cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất nên đốn 03 cây dừa, hiện không còn. Ngoài ra, bà H2 còn san lấp cát trên toàn bộ phần đất thửa 1273, tổng cộng 02 ghe, khối lượng 180m³.

Do đó, bà H2 yêu cầu ông Phạm Văn H2 di dời hàng rào lưới B40 đi nơi khác, trả lại diện tích đất lấn chiếm đo đạc thực tế 50,5m² tại các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 1 thuộc một phần của thửa 1273, tờ bản đồ 25, tọa lạc ấp P, xã T, Tp . theo sơ đồ đo đạc ngày 16/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Tại phiên tòa bà H2 xác định phần đất 50,5m² trên có nguồn gốc của cha bà H2 cho bà H2, cho bằng miệng, không có giấy tờ và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

* Luật sư Hồ Thị Xuân H1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên

3

đơn bà Trần Mai H trình bày quan điểm bảo vệ: Qua ý kiến của Luật sư trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên toà bị đơn ông Phạm Văn H2 trình bày:

Ông H2 không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, vì bị đơn cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc, trước đây của bà Út D (không rõ họ tên) sử dụng thời gian nào ông H2 không rõ. Sau đó, giữa bà Út D với bà nội của ông H2 tên Nguyễn Thị C (chết năm 2001) hoán đổi đất với nhau, cụ thể bờ đập đổi bờ đập nên phần đất tranh chấp là của bà nội ông H2 cho cha tên Phạm Văn L1 (chết năm 2017) quản lý sử dụng từ thời gian nào ông H2 không rõ. Việc hoán đổi đất giữa bà C với bà Út D không có làm giấy tờ, hai bên chỉ nói miệng và cũng không có ai biết.

Do ông H2 là con trai Ú sống chung nhà với cha mẹ từ nhỏ đến lớn, khi cha già lớn tuổi giao cho ông H2 quản lý sử dụng đất tranh chấp đến nay (ông H2 không nhớ rõ năm nào).

Thời điểm bà C, ông L1 sử dụng đất thì đất chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất, vì việc hoán đổi đất không có làm giấy tờ nên không đăng ký kê khai được và hiện tại đất vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do bà H2 phát sinh tranh chấp.

Trên phần đất tranh chấp trước đây cha ông H2 sử dụng có trồng Xoài, năm 2020 Nhà nước làm đường nên gia đình ông H2 đốn bỏ Xoài, hiện tại ông H2 trồng Chuối nhưng hiện tại C1 không còn. Năm 2021 ông H2 làm hàng rào lưới B40 bao xung quanh đất, không có ai tranh chấp. Đồng thời, ông H2 có san lấp đất trên phần đất tranh chấp chiều sâu 02m nên ý kiến bà H2 cho rằng bà H2 có san lấp cát và trồng dừa trên đất tranh chấp là không đúng.

Ngoài ra, không có ý kiến gì thêm.

* Đại diện Viện kiểm sát thành phố S phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • - Về án phí và chi phí tố tụng giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung

4

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp QSD đất”; tài sản tranh chấp là QSD đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Mai H yêu cầu ông Phạm Văn H2 di dời hàng rào lưới B40 đi nơi khác, trả lại diện tích đất 50,5m² tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M1, đất tọa lạc ấp P, xã T, Tp . (theo sơ đồ đo đạc ngày 16/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S) cho bà H2 quản lý sử dụng.

[2.1]. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo đơn khởi kiện bà H2 cho rằng đất tranh chấp thuộc một phần của thửa 1273, tờ bản đồ số 25, quyền sử dụng đất cấp cho bà H2, trước đây khi cha bà H2 sử dụng đất có trồng D1 và sau đó, cha bà H2 cho đất bà H2 thì năm 2020 bà H2 có san lấp cát trên đất tranh chấp. Tại phiên tòa, bà H2 thay đổi lại ý kiến xác định phần đất 50,5m² tranh chấp có nguồn gốc của cha bà H2 cho bà H2 quản lý sử dụng, cho bằng miệng, không có giấy tờ và đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, quá trình quản lý sử dụng đất cha bà H2 có trồng 01 cây Dừa trên phần đất tranh chấp và bà H2 không có san lấp cát, do trước đây cha bà H2 sử dụng đã có san lấp đất tạo thành mặt bằng.

[2.2]. Qua Tòa án xác minh thu thập chứng cứ đối với người làm chứng trình bày, khoảng năm 2019 ông T có bơm cát cho bà H2 khối lượng 180m³, giá 17.000.000đ. Khi đó, ông T chỉ bơm cát trên đất của bà H2, còn phần đất chéo liền kề đất của bà H2 đã được làm đê bao xung quanh bằng đất thì bà H2 không có kêu ông T bơm cát san lấp vào phần đất chéo này.

[2.3]. Đối với người làm chứng ông P trình bày ông P làm nghề cưa cây thuê được bà H2 thuê cưa 3-4 cây D1 và một số cây tạp tại vị trí xung quanh mé mương chính giữa đất của bà H2. Còn vị trí cuối đất và đầu ngoài của thửa đất giáp đường Kênh cùng L thì ông P không có cưa cây gì ở vị trí đó.

Như vậy, qua lời trình bày của ông P thì việc bà H2 cho rằng cách đây 30 năm, cha của bà H2 có trồng 01 cây Dừa trên phần đất tranh chấp là chưa phù hợp. Bởi theo lời trình bày của ông P xác định có nhận cưa thuê 3 - 4 cây Dừa của bà H2 tại vị trí chính giữa đất, còn phần đất tranh chấp nằm tiếp giáp phía trước đất của bà H2 và tại vị trí gốc trái của thửa đất số 1273 (từ đường K cùng L nhìn vào).

[2.4]. Về phía bị đơn cho rằng diện tích 50,5m² trên có nguồn gốc của cha mẹ ông H2 quản lý sử dụng từ khoảng năm 1970, đến khi cha mẹ ông H2 già yếu thì giao cho ông H2 tiếp tục quản lý sử dụng, vì ông H2 là con trai sống chung gia đình. Phần đất tranh chấp trước đây gia đình ông H2 sử dụng vào mục đích trồng X, năm 2020 Nhà nước làm đường K có bồi thường tiền cây trồng cho ông H2 số tiền

5

khoảng 6.000.000đồng. Năm 2021 ông H2 trồng chuối và làm hàng rào lưới B40 không có ai tranh chấp.

Qua Tòa án xác minh thu thập chứng cứ tại Công văn số: 527/BQLA&PTQĐ ngày 08/8/2024 của Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố thể hiện nội dung năm 2020 thực hiện công trình đường K cùng Long Thắng theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Dân hiến đất làm đường, Nhà nước hỗ trợ nhà, vật kiến trúc và cây trồng. Khi đó, trường hợp của ông Phạm Văn H2 (có hiến đất) được hỗ trợ số tiền 5.488.439đ (gồm công trình kiến trúc: 4.813.439đ và cây trồng 675.000đ) do ông H2 ký nhận tiền hỗ trợ.

Như vậy, đối với ý kiến của ông H2 cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc của ông H2 là có căn cứ, bởi vì hiện phần đất tranh chấp do ông H2 quản lý sử dụng trồng chuối và làm hàng rào lưới B40. Tuy nhiên, ông H2 không yêu cầu công nhận đất tranh chấp cho ông H2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Mặt khác, về tài liệu chứng cứ thu thập tại Công văn số 99/UBND-NC ngày 18/6/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố S về việc cung cấp thông tin thể hiện phần đất tranh chấp 50,5m² tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M1 không thuộc thửa đất số 1273, tờ bản đồ số 25 của bà H2 mà phần đất này thuộc thửa 468, tờ bản đồ số 25 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và theo sổ bộ địa chính chưa thể hiện thông tin chủ sử dụng đất. Đồng thời, phần diện tích 50,5m² đang tranh chấp bà H2 không có sử dụng đất, hiện bị đơn đang quản lý sử dụng và phần đất này có hàng rào riêng biệt.

Do đó, bà H2 cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà H2, chưa được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu ông H2 di dời tài sản đi nơi khác trả lại đất cho bà H2 là không có cơ sở chấp nhận.

[4]. Từ những phân tích, nhận định nêu trên không chấp nhận ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Thống nhất đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn xin miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí do bà H2 khuyết tật thuộc trường hợp được miễn theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án nên được chấp nhận.

Về chi phí đo đạc, định giá: Số tiền 4.830.370 đồng. Bà H2 nộp tiền chi phí đo đạc, định giá là 4.830.370 đồng (bà H2 đã tạm ứng và chi xong).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

6

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 221 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 166 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Mai H về việc yêu cầu ông Phạm Văn H2 di dời hàng rào lưới B40 đi nơi khác, trả lại diện tích đất 50,5m² tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M1, đất tọa lạc ấp P, xã T, Tp . theo sơ đồ đo đạc ngày 16/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Trần Mai H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 420.000 đồng theo biên lai số 0003963 ngày 24/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

  3. Về chi phí đo đạc, định giá: Số tiền 4.830.370 đồng. Ba Trần Mai H nộp tiền chi phí đo đạc, định giá là 4.830.370 đồng (Bà H đã tạm ứng và chi xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND.TPSÐ;
  • - THA.TP. Sa Đéc;
  • - Tòa án tỉnh ĐT;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.uấnHua61nHH

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 70/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu bà b việc di dời hàng rào
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger