Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 70/2023/HS-ST

Ngày: 29-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thanh

2. Bà Nguyễn Hoa Lài

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Nhật Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, đối với:

- Bị cáo: Trần Thị P, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1978, chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1945 (đã chết); bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 15/9/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 15/9/2023; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 9 năm 2023 đến ngày 06 tháng 9 năm 2023 chuyển tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Võ Thị Ngọc T, địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Chí H1, Nguyễn Phú H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ, ngày 03/9/2023, bị cáo Trần Thị P đi bộ đến nhà của chị Võ Thị Ngọc T để tìm chị T nói chuyện. Khi đến nơi, thấy chị T không có ở nhà, cửa hàng rào và cửa nhà chính không khóa, nên bị cáo P đi vào nhà, lúc này P phát hiện tủ quần áo cặp lối đi vào phòng ngủ của chị T không có khóa nên dùng tay mở cửa tủ và phát hiện có một chiếc túi nhỏ bên trong có 01 (một) chiếc nhẫn vàng và 01 (một) chiếc lắc vàng. Bị cáo P lấy số vàng nêu trên cho vào túi nylon cầm trên tay và nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Khi bị cáo P đi chưa khỏi nhà thì bị chị T đi về phát hiện, nên P bỏ chạy, chị T đuổi theo và truy hô và cùng với người dân bắt giữ P cùng tang vật rồi trình báo Công an thị trấn C.

Căn cứ Bản Kết luận định giá tài sản số: 41/KL-ĐGTS ngày 14/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hậu Giang kết luận: 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng 23k, trọng lượng 02 (hai) chỉ, có giá trị là: 10.940.000 đồng (mười triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc lắc đeo tay bằng vàng 23k, trọng lượng 05 (năm) chỉ, có giá trị là: 27.350.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản bị cáo P chiếm đoạt là: 38.290.000 đồng (ba mươi tám triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS-HCTA ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố bị cáo Trần Thị P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Thị P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất nội dung truy tố của Viện kiểm sát.

Bị hại là chị Võ Thị Ngọc T đã nhận lại đủ tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo P1. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Trần Thị P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Đề nghị tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 15/9/2023. Đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng số 28/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 09/10/2023 bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là chị Võ Thị Ngọc T 01 (một) chiếc nhẫn vàng 23k, trọng lượng 02 (hai) chỉ; 01 (một) chiếc lắc đeo tay bằng vàng 23k, trọng lượng 05 (năm) chỉ là đúng nên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Thị Ngọc T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Trần Thị P bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

Ý kiến tranh luận của bị cáo Trần Thị P: Không có.

Ý kiến tranh luận của bị hại Võ Thị Ngọc T: Không có.

Ý kiến đối đáp của đại diện Viện kiểm sát: Không có.

Bị cáo Trần Thị P nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo đã biết lỗi, bị cáo xin cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm về với gia đình và nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng Nguyễn Chí H1, Nguyễn Phú H2 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xét xử vắng mặt những người này.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thị P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận như sau:

Với động cơ tư lợi cá nhân, vào ngày 03/9/2023, tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang, Trần Thị P đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của chị Võ Thị Ngọc T lấy trộm 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng 23k, trọng lượng 02 (hai) chỉ và 01 (một) chiếc lắc đeo tay bằng vàng 23k, trọng lượng 05 (năm) chỉ. Qua định giá xác định tài sản bị cáo Trần Thị P chiếm đoạt có giá trị 38.290.000 đồng (ba mươi tám triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Do đó, hành vi cỉa bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[2.2] Quyết định hình phạt:

Về tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay. Bản thân bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, đã thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 25/01/2023 đã bị truy tố, chưa đưa ra xét xử lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cho thấy tính xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo, giúp bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân của bị cáo: Ngày 15/9/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 15/9/2023.

Từ những phân tích trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo vừa thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mà bị cáo chưa chấp hành với hình phạt của vụ án này thành hình phạt chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý trong giai đoạn điều tra và xử lý đúng nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.5] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị P 01 (một) năm tù, tổng hợp với hình phạt 10 (mười) tháng 18 (mười tám) ngày tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023 ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang mà bị cáo chưa chấp hành, tổng hình phạt mà bị cáo còn phải chấp hành là 01 (một) năm 10 (mười) tháng 18 (mười tám) ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2023 là ngày bị cáo bị tạm giữ.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 29 tháng 11 năm 2023 để đảm bảo việc thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét, xử lý.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thị P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị P, bị hại Võ Thị Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) ngày, kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành A;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Đội CSTHAHS và HTTP Công an huyện Châu Thành A;
  • - Đội CSĐTTP về TTXH Công an H.Châu Thành A;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Chúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger