Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/DSPT

Ngày: 14/8/2023

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính; Ông Hoàng Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2023/TLPT-DS, ngày 16 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DSST, ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 120/2023/QĐ-PT ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số nhà I, đường N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số A đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Lê Tiến T2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Cụm G, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Xuân Đ - Luật sư, văn phòng L, Đoàn luật sự thành phố Hà Nội (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lại Hữu T3, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số nhà I, đường N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (v/m).
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông T3: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số nhà I, đường N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1975; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã M, huyện P, tp Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: Chung cư S, tầng 15A, phòng 15A18, Khu đô thị V, huyện G, tp Hà Nội (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty L1; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí D, chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: Số H, đường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Phạm Thị H, ông Nguyễn Thành C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày như sau:

Do có mối quan hệ quen biết, bà có cho bà Phạm Thị H vay tổng số tiền là 3.250.000.000đ, cụ thể như sau:

Ngày 17/10/2020, cho bà H vay số tiền là 350.000.000đ, thời hạn vay từ 17/10/2020 đến 17/01/2021.

Ngày 10/8/2020, cho bà H vay số tiền là 100.000.000đ, thời hạn vay từ 10/8/2020.

Ngày 12/9/2020, cho bà H vay số tiền là 300.000.000đ, thời hạn vay từ 12/9/2020 đến 12/10/2020.

Ngày 15/9/2020, cho bà H vay số tiền là 400.000.000đ, thời hạn vay từ 15/9/2020 đến 15/11/2020.

Ngày 26/10/2020, cho bà H vay số tiền là 100.000.000đ, thời hạn vay từ 16/10/2020 đến 26/01/2021.

Những lần vay nợ trên, tại giấy vay nợ có ghi cả tên chồng bà là ông Lại Hữu T3. Tuy nhiên, trên thực tế bà là người đứng ra trực tiếp cho bà H vay tiền. Do tiền là của gia đình nên khi viết giấy vay tiền thì đưa cả tên chồng bà vào, chứ chồng bà không phải là người đứng ra cho vay tiền cũng như đưa tiền cho bà H vay.

Ngoài ra, bà còn trực tiếp cho bà H vay những lần cụ thể sau:

Ngày 26/9/2020, cho bà H vay số tiền là 200.000.000đ, thời hạn vay từ 26/9/2020 đến 26/10/2020.

Ngày 10/11/2020, cho bà H vay số tiền là 1.100.000.000đ, thời hạn vay từ 10/11/2020 đến 10/12/2020.

Ngày 12/11/2020, cho bà H vay số tiền là 700.000.000đ, thời hạn vay từ 12/11/2020 đến 12/12/2020.

Tổng số tiền bà cho bà H vay là 3.250.000.000₫ (Ba tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).

Khi vay, trên giấy vay nợ có thể hiện là có lãi suất nhưng không ghi cụ thể, các bà có thoả thuận miệng lãi suất là 4 triệu đồng/100 triệu đồng/01 tháng tức 4%/tháng.

Quá trình vay nợ, bà H đã trả bà tiền lãi tính đến ngày 16/9/2021, toàn bộ tiền lãi là bà H chuyển khoản vào tài khoản của bà tại ngân hàng S số [...], tổng số tiền đã chuyển khoản là 1.265.000.000 đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 1.089.000.000 đồng, tiền mua đất chung là 100.000.000 đồng, tiền trả mua quần áo, mua mật ong và mua bưởi là 8.000.000 đồng, tiền trả lãi tiền mua đất chung nhau là 68.000.000 đồng. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà H trả bà số tiền trên nhưng bà H cứ khất lần, khất lượt không trả.

Khi bà khởi kiện tại Toà án lần đầu, ngày 04/4/2022, hai bên có thoả thuận việc bà H thừa nhận có vay của vợ chồng bà số tiền là 3.250.000.000 đồng. Khi đó có cả ông Nguyễn Thành C là bạn của bà H. Ông C xin nhận trách nhiệm cùng với bà H trả cho vợ chồng bà toàn bộ số tiền trên bằng tiền mặt nên vợ chồng bà mới đồng ý lập biên bản. Tuy nhiên, sau đó, bà H và ông C không thực hiện theo thoả thuận nên bà tiếp tục khởi kiện bà H yêu cầu trả số tiền đã vay.

Tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu bà H phải trả cho vợ chồng bà số tiền gốc là 3.250.000.000 đồng và tiền lãi là 1,66%/tháng tính từ 16/9/2021.

Nay bà yêu cầu bà H phải trả vợ chồng bà tiền gốc là 3.250.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 16/9/2021 đến nay theo mức lãi suất phía bà H đồng ý là 1%/ tháng, mức lãi suất quá hạn theo quy định của pháp luật là 1,5%/tháng, tức 18%/năm. Đối với số tiền bị đơn trình bày đã trả từ khi vay đến ngày 18/10/2021, tổng số tiền 1.157.000.000 đồng, đây là số tiền lãi bị đơn trả nên bà mới yêu cầu tính lãi từ ngày 16/9/2021. Trong toàn bộ số tiền này thì có 68.000.000đồng là tiền lãi mua đất chung bà H nợ bà, không phải là tiền lãi của số tiền 3.250.000.000đồng. Nay do không chứng minh được đây là tiền lãi nên bà đồng ý đối trừ số tiền này vào khoản tiền gốc và lãi mà bà H đã vay theo mức lãi suất là 1%/tháng tính đến hết ngày 15/9/2021 nhưng phải trừ đi số tiền 68.000.000đồng. Bà yêu cầu bà H phải trả cho vợ chồng bà số tiền gốc còn lại là khoảng 2, 5 tỷ đồng và lãi suất quá hạn tính từ ngày 16/9/2021 đến ngày xét xử là khoảng 700.000.000 đồng. Số tiền bị đơn trả sau ngày 15/9/2021 là tiền lãi trả quá hạn.

Bị đơn và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày như sau: Bà Phạm Thị H có vay 08 khoản vay đúng như nguyên đơn trình bày. Các lần vay đều có hợp đồng vay, thoả thuận thời hạn trả nợ và về lãi suất thì thoả thuận miệng là 1%/tháng không ghi trong hợp đồng. Khi làm hợp đồng vay thì có hợp đồng vay mang tên riêng bà T, có hợp đồng vay mang tên cả ông T3 và bà T nhưng khi đưa tiền thì có lúc có mặt vợ chồng bà T nhưng cũng có lúc thì chỉ có bà T đưa tiền. Về nguồn gốc số tiền là của ai thì bà H không biết. Nhưng việc bà vay nợ thì cả vợ chồng bà T và ông T3 đều biết. Quá trình vay nợ, bà H cũng đã trả cho bà T tiền lãi hàng tháng bằng tiền mặt, ngoài ra, bà H còn chuyển khoản vào tài khoản của bà T tại ngân hàng S tổng số tiền là 1.157.000.000 đồng là tiền trả vào tiền gốc. Thực chất số tiền 3.250.000.000 đồng là tiền bà H vay hộ ông Nguyễn Thành C. Khi bà T khởi kiện lần đầu tại Toà án, ngày 04/4/2022 tại Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, có mặt của vợ chồng bà T, bà H và ông C đã thống nhất nội dung như sau:

“1. Đối với số tiền 3.250.000.000 đồng hiện trên giấy vay nợ đang ghi tên người vay nợ là bà Phạm Thị H thì ông C và bà H xác nhận số nợ này. Hẹn đến ngày 30/4/2022, ông C và bà H sẽ trả số tiền này bằng tiền mặt.

2. Đối với lô đất LK 12-47, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 56 ở tại N, Y, Bắc Giang thì bà T, bà H và bà B xác nhận 3 người chung ½ thửa đất này. Trong phần chung lô đất này, bà H còn nợ 40 triệu tiền gốc (690 triệu – 650 triệu= 40 triệu là tiền mua lô đất).

3. Đối với lô đất LK12-01, thửa đất số 94, tờ bản đồ 56, diện tích 202,6m2 cũng tại N, Y, Bắc Giang, thì chúng tôi cùng xác nhận ông T3, bà T có chung với ông C lô đất này. Mỗi bên tính ½ giá trị thửa đất.”

Như vậy tại biên bản thoả thuận này, các bên đã xác nhận khoản nợ 3.250.000.000 đồng là khoản nợ chung của ông C và bà H. Do vậy, bị đơn đề nghị:

- Xác nhận khoản tiền 3.250.000.000 đồng mà bà H đã vay vợ chồng bà T là khoản nợ chung của bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Thành C.

- Xác nhận việc bà H đã thanh toán số tiền 1.157.000.000 đồng vào tiền gốc.

- Đề nghị đối trừ lô đất có ký hiệu LK12-01, diện tích 202,6m2 thuộc khu đô thị M, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vào số nợ còn lại của bà H và ông C.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành C và người đại diện theo uỷ quyền của ông C trình bày:

Số tiền 3.250.000.000 đồng mà bà H làm hợp đồng vay nợ với vợ chồng bà T thực chất là bà H vay nợ cho ông C. Việc bà H vay nợ số tiền này cho ông C, vợ chồng bà T đều biết. Tuy nhiên, do ông C ở Hà Nội không về được nên bà H ký hợp đồng vay nợ cho ông C. Ông C có gửi bà H tiền lãi để trả cho vợ chồng bà T. Ngoài ra, số tiền bà H chuyển khoản vào tài khoản của bà T tại ngân hàng S nhiều lần, tổng số tiền là 1.157.000.000 đồng là tiền ông C gửi bà H trả tiền gốc cho bà T. Ngày 04/4/2022, tại Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, giữa vợ chồng bà T và ông C, bà H đã thống nhất việc số nợ 3.250.000.000 đồng là khoản nợ của bà H và ông C. Ông C và bà H có trách nhiệm trả số nợ này. Đồng thời cũng thoả thuận về việc giữa vợ chồng bà T và ông C có chung lô đất LK12-01, diện tích 202,6m2 thuộc khu đô thị M, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, mỗi bên được hưởng ½ giá trị lô đất. Như vậy, ông C đồng ý với ý kiến của bà H. Đề nghị xác nhận khoản nợ 3.250.000.000 đồng là khoản nợ chung của bà H và ông C. Đề nghị đối trừ số tiền bà H đã chuyển khoản cho bà T là 1.157.000.000 đồng vào số tiền gốc đã vay và trừ giá trị ½ lô đất mà giữa vợ chồng bà T và ông Chung C nhau trừ vào khoản nợ của bà H.

Ông Lại Hữu T3 trình bày như sau: Giữa gia đình ông và bà Phạm Thị H có mối quan hệ quen biết. Quá trình hai gia đình chơi với nhau thì bà H có hỏi vay vợ ông là bà Nguyễn Thị T. Sau đó, bà T có nói với ông và ông cũng đồng ý cho bà H vay tiền. Toàn bộ số tiền vợ ông cho bà H vay là 3.250.000.000đ là tiền của gia đình ông nhưng vợ ông là người trực tiếp đứng ra giao tiền cho bà H và bà H có ký vào giấy hợp đồng vay tiền thể hiện việc vay mượn giữa vợ chồng ông và bà H. Một số hợp đồng vay tiền thì chỉ ghi người cho vay là vợ ông. Ông khẳng định, toàn bộ số tiền vợ ông cho bà H vay là tiền của gia đình nhưng vợ ông là người trực tiếp thực hiện việc giao dịch. Đối với việc vợ ông khởi kiện bà Phạm Thị H thì ông hoàn toàn đồng ý với ý kiến của vợ ông.

Với nội dung như trên, bản án sơ thẩm căn cứ các khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 235, 244, 259, 266, 271, 273, và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 118, 119, 208, 213, 400, 401, 429, 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 469, 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Phạm Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị T và ông Lại Hữu T3 tổng số tiền gốc tính đến ngày 15/9/2021 là 2.528.985.884 đồng, tiền lãi quá hạn tính từ ngày 16/9/2021 theo mức lãi suất quá hạn là 18%/năm đến ngày xét xử 24/4/2023 là 675.461.511 đồng. Tổng số tiền phải trả là 3.204.447.000 đồng (Ba tỷ hai trăm linh tư triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án đối với bị đơn.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/5/2022, bà Phan Thị H1 và ông Nguyễn Thanh C1 làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 19/7/2023, ông Nguyễn Thành C có đơn xin rút đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày, tranh luận giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng thời, đề nghị hội đồng xét xử xem xét lại các nội dung sau: Thứ nhất, đề nghị buộc ông Nguyễn Thành C phải liên đới cùng bà Phạm Thị H trả cho bà T ông T3 toàn bộ nợ gốc và tiền lãi phát sinh; thứ hai, đề nghị xem xét lại lãi suất và hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông C vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin rút yêu cầu kháng cáo đề ngày 19/7/2023. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 5 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Thanh C1; Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà H, ông C1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị H, ông Nguyễn Thành C nộp trong thời hạn luật định đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Ngày 19/7/2023, ông C có đơn xin rút đơn kháng cáo, xét việc rút đơn kháng cáo của ông C là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay hướng dẫn viết đơn nên căn cứ khoản 5 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Thành C.

[2] Về nội dung:

Căn cứ vào các giấy vay tiền do bà T xuất trình thì vợ chồng bà T cho bà H vay các lần như sau:

Lần 1: Ngày 10/8/2020, cho vay số tiền là 100.000.000đ, thời hạn vay từ 10/8/2020.

Lần 2: Ngày 12/9/2020, cho vay số tiền là 300.000.000đ, thời hạn vay từ 12/9/2020 đến 12/10/2020.

Lần 3: Ngày 15/9/2020, cho vay số tiền là 400.000.000đ, thời hạn vay từ 15/9/2020 đến 15/11/2020.

Lần 4: Ngày 26/9/2020, cho vay số tiền là 200.000.000đ, thời hạn vay từ 26/9/2020 đến 26/10/2020.

Lần 5: Ngày 17/10/2020, cho vay số tiền là 350.000.000đ, thời hạn vay từ 17/10/2020 đến 17/01/2021.

Lần 6: Ngày 26/10/2020, cho vay số tiền là 100.000.000đ, thời hạn vay từ 16/10/2020 đến 26/01/2021.

Lần 7: Ngày 10/11/2020, cho vay số tiền là 1.100.000.000đ, thời hạn vay từ 10/11/2020 đến 10/12/2020.

Lần 8: Ngày 12/11/2020, cho vay số tiền là 700.000.000đ, thời hạn vay từ 12/11/2020 đến 12/12/2020.

Tổng số tiền cho vay là 3.250.000.000 đồng.

Khi vay, các bên có thoả thuận về lãi suất nhưng không ghi trong hợp đồng vay tiền. Bà H thừa nhận có ký các giấy vay tiền của vợ chồng bà T tổng số tiền 3.250.000.000 đồng nhưng bà H đề nghị xác nhận khoản tiền này là tiền nợ chung của bà H và ông C theo biên bản thỏa thuận ngày 04/4/2022. Bà H xác nhận đã trả cho bà T số tiền nợ gốc là: 1.157.000.000 đồng, đề nghị trừ số nợ gốc đã trả, còn lại bao nhiêu bà và ông C trả nốt cho bà T cả gốc lẫn lãi.

Bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H phải trả cho bà T và ông T3 số tiền gốc và lãi là: 3.204.447.000 đồng. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà H kháng cáo toàn bộ bản án.

[3] Xét xem kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị H:

[3.1] Đối với kháng cáo việc Toà án sơ thẩm không xác định khoản nợ gốc 3.250.000.000đồng là khoản nợ chung của bà H và ông C thì thấy:

Việc vợ chồng bà T cho bà H vay tiền được xác nhận bằng các giấy vay tiền. Các bên khi tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng vay tiền là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Trong hợp đồng thoả thuận thời hạn trả nợ nhưng không ghi lãi suất nhưng trên thực tế hai bên có thỏa thuận trả lãi, do vậy xác định là hợp đồng có kỳ hạn, có lãi. Trong hợp đồng vay tiền, bà H là người ký kết giấy vay tiền, bà H thừa nhận đây là chữ ký của bà và xác nhận có vay số tiền nợ của vợ chồng bà T là 3.250.000.000 đồng, ngoài bà H không có ai ký vào giấy vay tiền. Bà H cho rằng đây xác định là khoản nợ chung giữa bà H, ông C với vợ chồng bà T. Bà cho rằng bà chỉ đứng ra vay hộ và trả lãi cho ông C, ông C và bà T thừa nhận việc này trong biên bản thoả thuận ngày 04/4/2022 về việc thanh toán nợ có nội dung ông C và bà H có trách nhiệm thanh toán cho bà T số tiền nợ là 3.250.000.000đồng được lập sau khi bà T khởi kiện đến Toà án, ông C thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, xét thấy trong các giấy vay tiền, chỉ bà H ký xác nhận bên người vay, ngoài ra không có ai khác tham gia ký hợp đồng nên bà H cho rằng đây là khoản nợ chung giữa bà H với ông C là không có căn cứ. Tại đơn xin rút kháng cáo ngày 18/7/2023, ông C trình bày đối với số tiền 3.250.000.000 đồng mà bà H vay của vợ chồng ông T3, bà T thì ông không có nghĩa vụ phải trả cùng bà H số tiền này và chấp nhận quyết định theo bản án sơ thẩm, rút đơn kháng cáo. Bà T cũng thừa nhận số tiền vay này là cho bà H vay, không liên quan đến ông C. Mặt khác, đối với biên bản thỏa thuận ngày 04/4/2022 về việc thanh toán nợ có nội dung ông C và bà H có trách nhiệm thanh toán cho bà T số tiền nợ là 3.250.000.000 đồng nhưng sau đó các đương sự đã không thực hiện theo thỏa thuận đã ký nên việc bà T không chấp nhận biên bản thỏa thuận nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

H không đưa ra được tài liệu nào khác chứng minh việc ông C có nghĩa vụ liên đới đối với khoản nợ này nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị đơn.

Trong trường hợp bà H và ông C có tranh chấp, bà H có quyền khởi kiện ông C bằng vụ án khác.

[3.1] Đối với kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm buộc bà H phải trả cho vợ chồng bà T, ông T3 số tiền 3.204.447.000 đồng là tiền gốc và tiền lãi là không đúng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có thừa nhận tổng số tiền vay như các giấy vay tiền mà nguyên đơn đã xuất trình với tổng số nợ gốc là: 3.250.000.000 đồng là đúng. Quá trình vay nợ bị đơn có chuyển khoản cho nguyên đơn tổng số tiền là 1.265.000.000 đồng, trong số tiền này có 108.000.000 đồng là tiền mua chung đất và tiền trả trong sinh hoạt và bị đơn nguyên đơn cũng xác nhận về số tiền này nên cần đối trừ. Đối với số tiền 68.000.000 đồng nguyên đơn trình bày là tiền lãi mua đất chung giữa nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn không thừa nhận khoản tiền này. Xem xét tin nhắn trao đổi giữa nguyên đơn và bị đơn qua tài khoản zalo thì có thể hiện việc bị đơn có ghi là tiền lãi mua đất, do vậy cần chấp nhận đối trừ số tiền này cho nguyên đơn. Như vậy, xác định trong việc vay nợ này bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền 1.089.000.000 đồng.

Việc bị đơn chuyển khoản trả nguyên đơn số tiền là 1.089.000.000 đồng, chứng cứ này đã được bị đơn giao nộp thể hiện ở thông tin giao dịch chuyển khoản từ tài khoản của bà H tại Ngân hàng A tới tài khoản bà T tại Ngân hàng S, việc chuyển khoản này nguyên đơn đã xác nhận. Việc bị đơn cho rằng tổng số tiền 1.089.000.000 đồng mà bà đã chuyển khoản cho bà T là tiền gốc, còn tiền lãi trả bằng tiền mặt nhưng bị đơn không có căn cứ để chứng minh là trả nợ gốc nên không căn cứ trừ vào số nợ gốc.

Xem xét 08 khoản vay của nguyên đơn và bị đơn thì thấy, chỉ có khoản vay đầu tiên là ngày 10/8/2020 là không ghi thời hạn, còn lại 07 khoản vay còn lại đều có ghi thời hạn trả. Xem xét việc trả tiền giữa các bên thì thấy, các bên có nhiều lần trả tiền cho nhau, như vậy tính đến ngày 15/9/2021 thì tất cả các khoản vay đều đã quá thời hạn phải trả. Do vậy, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tính quá hạn từ ngày 16/9/2021. Do các bên chấp nhận mức lãi suất trong hạn là 12%/01 năm nên mức tính quá hạn được tính là 18%/năm theo quy định tại điều 466 BLDS.

Do nguyên đơn trình bày bị đơn đã trả tiền lãi đến ngày 15/9/2021, nhưng xem xét số tiền và thời gian bị đơn chuyển khoản trả cho nguyên đơn thì sau ngày 15/9/2021, bị đơn còn chuyển khoản trả cho nguyên đơn lần lượt là ngày 16/9/2021 trả số tiền 16.000.000 đồng, ngày 18/9/2021 trả số tiền 14.000.000 đồng, ngày 11/10/2021 trả số tiền 8.000.000 đồng và ngày 18/10/2021 trả số tiền là 14.000.000 đồng. Như vậy, cần đối trừ số tiền này vào số tiền gốc của nguyên đơn.

Từ những căn cứ trên, xác định số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn sau khi đối trừ các khoản tiền đã trả với lãi suất là 1%/tháng, còn lại trừ vào số tiền gốc đã vay theo như Bản án sơ thẩm đã tính với số tiền tính đến ngày 15/9/2021, số tiền nợ gốc là 2.528.985.884 đồng và số tiền lãi phải trả là 675.461.511 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi bị đơn phải trả là 3.204.447.395 đồng, làm tròn số là 3.204.447.000 đồng là hoàn toàn phù hợp. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo này của bị đơn.

[3] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DSST, ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông C phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, 5 Điều 308; Điều 309; Điều 312; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Thành C.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DSST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DSST, ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  4. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0001423 ngày 22/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Ông Nguyễn Thành C phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông C số tiền là 150.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0001424 ngày 22/5/2023 Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Bắc Ninh;

- TAND thị xã Quế Võ;

- Chi cục THADS thị xã Quế Võ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2023/DSPT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 70/2023/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thuý, sinh năm 1975; Bị đơn: Bà Phạm Thị Hiền, sinh năm 1979
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger