Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 70/2022/DS-PT
Ngày 26 - 01 - 2022
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định hành chính.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Văn;
Ông Phạm Công Mười.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2021/TLPT-DS ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định hành chính”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1797/2020/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2957/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1963.
    Địa chỉ: ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1974.
    Thường trú: đường L, thành phố N, tỉnh N. (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Trương Thị C, sinh năm 1948. (có mặt)
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn S, sinh năm 1957. (có mặt)
    Cùng địa chỉ: ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Lê Văn S, sinh năm 1957. (có mặt)
      Địa chỉ: ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Bà Trương Thị N, sinh năm 1959. (vắng mặt)
      Địa chỉ: đường G, phường Y, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Bà Trương Thị K, sinh năm 1968. (có mặt)
      Địa chỉ: ấp 3, xã X1, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
    4. Bà Trương Thị B, sinh năm 1957. (có mặt)
      Địa chỉ: ấp 5, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    5. Bà Trương Thị L, sinh năm 1954. (vắng mặt)
      Địa chỉ: đường G, phường Y, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
    6. Bà Trương Thị K1, sinh năm 1965. (có mặt)
      Địa chỉ: số ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
    7. Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có văn bản xin xét xử vắng mặt)
      Địa chỉ: đường Đ, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Ông Trần Hữu R – đại diện nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trương Văn D trình bày:

Nguyên trước đây cha ông Trương Văn D là Trương Văn L1 và mẹ là bà Lý Thị D1 được hưởng một phần đất có diện tích 12.015m2 tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn gốc đất do ông ngoại của ông Trương Văn L1 là ông Trần Văn Q để lại). Trong quá trình quản lý sử dụng, gia đình ông có cho bà Trương Thị C mượn phần đất có diện tích 690m2 thuộc một phần diện tích đất nêu trên để canh tác, làm kế sinh nhai. Năm 1979, cha ông D chết, mẹ ông D đã trực tiếp quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu trên. Năm 1993, bà Lý Thị D1 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số 1227/QSDĐ ngày 28/5/1993. Tuy nhiên, trong giấy chứng nhận này không đề cập đến diện tích bà Trương Thị C đã mượn của gia đình ông D, thực tế giữa hai bên đã mặc định phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông D.

Vào năm 2000, bà C muốn đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên nhưng ông D không đồng ý nên đã nhiều lần gửi đơn ngăn cản đến UBND xã X. Để đảm bảo quyền lợi của gia đình ông D, ngày 17/4/2000 bà C đã làm giấy tái xác nhận phần đất bà đang quản lý là mượn của gia đình ông D, bà C cam kết nếu có chuyển nhượng thửa đất nêu trên thì sẽ cho ông D 04 cây vàng. Tuy nhiên, sau này ông D mới biết được là tháng 11/2000 bà C đã được UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3637/QSDĐ ngày 14/11/2000, tương ứng với thửa XX, tờ bản đồ số YY, có diện tích 690m2.

Ngày 21/8/2019, UBND xã X đưa ra hòa giải tranh chấp giữa ông D với bà C nhưng các bên không thỏa thuận được. Nhận thấy hành vi tự ý đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện H cho bà Trương Thị C là trái với quy định pháp luật và xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình ông D nên ông D khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị C phải trả lại phần diện tích đất đã mượn của gia đình ông với diện tích là 690m2 thuộc thửa XX tờ bản đồ số YY, xã X, huyện H và đề nghị hủy Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 14/11/2000 của UBND huyện H về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3637/QSDĐ cấp ngày 14/11/2000 cho bà Trương Thị C.

Theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 11/5/2020 thì phần diện tích đất tranh chấp thực tế là 501m2 thuộc thửa XX-1. Do đó, ông D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà D về việc trả lại đất 189m2 và chỉ yêu cầu bà C trả lại phần diện tích đất cho gia đình ông theo diện tích đo vẽ thực tế là 501m2 thuộc thửa XX-1.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông D xác định chỉ yêu cầu bà C trả lại phần diện tích đất nêu trên cho cá nhân ông, nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông thì sau này các anh em trong gia đình ông sẽ tự giải quyết với nhau.

Bị đơn bà Trương Thị C (có ông Lê Văn S làm đại diện) trình bày:

Bà Trương Thị C là người sử dụng hợp pháp đối với phần đất diện tích 690m2 thuộc thửa XX tờ bản đồ số 3 xã X huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3837/QSDĐ theo Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 14/11/2000.

Về nguồn gốc đất có diện tích 5.000m2 là của ông cố bà C tên Trần Văn Q cho bà nội tên Trần Thị M. Bà nội bà C chung sống với ông nội bà C tên Trương Văn L2 có 08 người con chung gồm: Bà Trương Thị C1, ông Trương Văn C2, ông Trương Văn C3 (cha của bà), ông Trương Văn C4 ông Trương Văn C5, Trương Văn L1 (tên gọi khác là Trương Văn C6 cha của ông D), ông Trương Văn K1 và bà Trương Thị O. Lúc sinh thời, ông bà nội bà C có cho cha bà C diện tích đất khoảng 10 cao (tức 1.000m2) để cha mẹ bà C canh tác sử dụng và thờ cúng giỗ ông Trương Văn C4 việc cho đất chỉ nói miệng, không làm giấy tờ. Từ năm 1966 gia đình bà C gồm cha bà và bà đã sử dụng canh tác trồng hoa màu trên đất, đến năm 1977 cha bà C chết, bà C tiếp tục sử dụng canh tác trồng hoa màu trên đất cho đến nay.

Ngày 14/5/1989, do những người lớn cùng hàng với cha bà C có nhiều người đã chết trong đó có cha của ông D và cha bà, vì sợ sau này con cháu sẽ tranh chấp nên gia tộc của ông Trần Văn Q đã tổ chức cuộc họp những người lớn tuổi trong họ tộc gồm ông Trần Văn N1, ông Nguyễn Văn N2 (tên gọi khác là Nhọ) và ông Trần Văn U cùng có mặt bà C, ông D và bà D1 (mẹ ông D), gia tộc đã phân chia đất đai như sau:

  • Bà Trương Thị C (con ông Trương Văn C3) được chia diện tích đất là 10 cao (tức 1.000m2), đây là phần đất cha bà C và bà C sử dụng từ năm 1966.
  • Ông Trương Văn H (con bà Trương Thị O) thay mặt bà O nhận diện tích đất hưởng 10 cao (tức 1.000m2) cho bà Trương Thị O.
  • Ông Trương Văn D (con ông Trương Văn L1 tên gọi khác là Trương Văn C6) nhận diện tích đất được hưởng 30 cao (tức 3.000m2).

Việc chia đất từ năm 1989 nhằm mục đích, xác định việc sử dụng đất của các người đã được ông bà chia đất trước đây và để con cháu của những người này đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước.

Sau khi có giấy phân chia đất, người nào được hưởng bao nhiêu thì đi đăng ký và nộp thuế cho Nhà nước. Phía gia đình bà D1 đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 5.064m2, trong đó có 949m2 là đất làm thổ mộ của gia tộc nên diện tích còn lại là 4.115m2. Như vậy, phần diện tích đất gia tộc chia thì gia đình bà D1, ông D đã đăng ký và được cấp là nhiều hơn so với các chi khác.

Phần đất bà Trương Thị O được chia thì bà O cũng đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với phần đất của bà C được chia thì bà C cũng đã đăng ký, nộp thuế và được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3837/QSDĐ theo Quyết định số 130/ QĐ-UB ngày 14/11/2000 với diện tích là 690m2 thuộc thửa XX tờ bản đồ số 3 xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, so với diện tích đất mà gia tộc chia thì bà C đã đăng ký và được cấp ít hơn 310m2 vì phần đất này nằm trong thửa 1514 tờ bản đồ số 3 dùng để làm thổ mộ cho gia tộc và bà D1 đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà C không tranh chấp.

Vào tháng 4/2000, có người hỏi mua toàn bộ khu đất để làm thổ mộ nên ông D có đến gặp bà C hỏi nếu có bán đất thì để ông làm dịch vụ và yêu cầu bà C cho ông 03 cây vàng. Do nghĩ tình nghĩa bà con trong thân tộc nên bà đồng ý. Tuy nhiên do bà không biết chữ nên ông D đã tự viết giấy giao kèo dịch vụ nhà đất thành 02 bản cho bà C lăn tay vào, mỗi bên giữ 01 bản, còn chữ ký trong giấy giao kèo là ông D ký. Tuy nhiên, sau đó người mua đất không đủ tiền mà chỉ mua được đất của gia đình ông D và gia đình bà O.

Đến năm 2008 khi nghe bà C bán đất, anh em của ông D đã gửi đơn tranh chấp đất với bà C tại UBND xã X, vụ việc kéo dài đến năm 2009 thì anh em ông D không tranh chấp nữa nên bà có nộp đơn xin xác nhận ngày 09/12/2009 và được Tòa án nhân dân huyện H xác nhận việc gia đình ông Trương Văn D không có tranh chấp và nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện H.

Đến tháng 8/2019, bà tiến hành xin phép xây dựng hàng rào ranh giới đất, tiến hành xây dựng thì ông D lại làm đơn ngăn chặn và tranh chấp đất với bà cho đến nay.

Nhận thấy việc sử dụng phần đất diện tích 690m2 thuộc thửa XX tờ bản đồ số 3 xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3837/QSDĐ theo Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 14/11/2000 cho bà C là do bà C được thừa hưởng từ ông bà, cha mẹ để lại và được gia tộc phân chia rõ ràng, cha bà C và bà C không mượn đất của cha ông D và ông D nên bà C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D và đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn S trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Trương Thị C.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N, bà Trương Thị K, bà Trương Thị B, bà Trương Thị L, bà Trương Thị K1 cùng thống nhất ý kiến trình bày:

Nguyên trước đây cha các ông bà là ông Trương Văn L1 và mẹ là bà Lý Thị D1 được hưởng một phần diện tích đất của ông bà tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích là: 12.025m2. Trong quá trình quản lý sử dụng, gia đình ông bà có cho bà Trương Thị C mượn một phần đất có diện tích 690m2 để canh tác làm kế sinh nhai. Năm 1979, khi cha chết, mẹ là người trực tiếp quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu trên. Năm 1993, bà Lý Thị D1 được UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1227/QSDĐ ngày 28/5/1993. Tuy nhiên, trong Giấy chứng nhận này không đề cập đến diện tích bà Trương Thị C đã mượn của gia đình ông bà, thực tế giữa gia đình và bà C mặc định phần đất đó thuộc quyền sử dụng của gia đình ông bà. Vào năm 2000, bà Trương Thị C muốn đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên, tuy nhiên gia đình đã không đồng ý, ông Trương Văn D đại diện gia đình đã gửi đơn lên UBND xã X nhiều lần để ngăn cản bà C.

Sau này, bà C đã làm giấy tái xác nhận phần đất bà đang quản lý có liên quan đến gia đình ông bà, bà C cam kết nếu có chuyển nhượng thửa đất nêu trên thì sẽ cho ông D 04 (bốn) cây vàng. Tuy nhiên sau này gia đình được biết, vào tháng 7/2000 bà Trương Thị C đã tự ý kê khai sử dụng phần đất trên và đã được UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3637/UBBC ngày 14/11/2000, tương ứng với thửa XX, tờ bản đồ YY, có diện tích 690m2.

Ngày 21/8/2019, UBND xã X đã hòa giải tranh chấp giữa ông Trương Văn D với bà Trương Thị C nhưng không đạt được kết quả. Nhận thấy hành vi của bà Trương Thị C về việc tự ý kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của UBND huyện H cho bà Trương Thị C là trái với quy định của pháp luật và xâm hại đến quyền và lợi ích của gia đình ông bà. Do đó, ông bà thống nhất với ý kiến và yêu cầu theo khởi kiện của ông Trương Văn D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện H trình bày:

UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P099130 số vào sổ 3837/QSDĐ (Theo Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 14/11/2000 cho bà Trương Thị C theo danh sách cấp giấy chứng nhận có số thứ tự 4) là đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.

Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn D với bà Trương Thị C thì UBND huyện H không có ý kiến và đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1797/2020/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai 1993; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D đòi bà Trương Thị C phải trả lại phần đất diện tích 189m2 thuộc thửa XX-1, tờ bản đồ số YY, xã Xuân Thới Thượng, huyện H.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D đòi bà Trương Thị C phải trả lại phần đất diện tích 501m2 thuộc thửa XX-1, tờ bản đồ số YY, xã X, huyện H (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 11/5/2020).
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D về việc hủy Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 14/11/2000 của UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3637/QSDĐ ngày 14/11/2000 cho bà Trương Thị C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/10/2020, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn D trình bày: Phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình ông Trương Văn D; đã được gia đình ông D đăng ký kê khai theo Tài liệu 299. Vì là người trong thân tộc nên bà D1 (mẹ ông D) cho bà C mượn một phần đất để ở. Bà D1 có 08 người con nhưng bà C chỉ thỏa thuận với mình ông D nên thỏa thuận này không được công nhận. Bà C không có tài liệu, chứng cứ chứng minh về nguồn gốc đất nhưng lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để thu thập thêm chứng cứ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị C trình bày: Diện tích đất tranh chấp bà C đã sử dụng từ năm 1966 đến nay. Ông D cho rằng đất trên gia đình ông D cho bà C mượn nhưng không có chứng cứ chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại là không có căn cứ vì cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng. Về nội dung, diện tích đất tranh chấp trước đây do cha bà C sử dụng, sau đó để lại cho bà C sử dụng; bà C sử dụng ổn định, có đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông D cho rằng đất có nguồn gốc của gia đình ông D, cho bà C mượn ở nhờ nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn D; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ông Trương Văn D khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị C phải trả lại phần đất diện tích 690m2 thuộc thửa XX, tờ bản đồ số YY, xã X, huyện H; đồng thời hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trương Thị C đối với diện tích đất nêu trên.

Quá trình xét xử sơ thẩm, diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 501m2, thuộc thửa XX-1. Do đó, ông D rút lại yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 189m2; chỉ yêu cầu bà C trả lại diện tích 501m2 theo đo đạc thực tế.

[2.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 501m2 thuộc thửa XX-1, tờ bản đồ số YY, xã X, huyện H có nguồn gốc của ông Trần Văn Q (ông nội của nguyên đơn, bị đơn) để lại; sau khi ông Q qua đời thì ông Trương Văn C3 (cha bà C) sử dụng từ trước giải phóng; sau giải phóng ông C3 giao lại cho con gái là bà Trương Thị C quản lý, sử dụng đến nay.

Ông Trương Văn D cho rằng việc ông C3, bà C sử dụng đất dựa trên cơ sở cho mượn của ông Trương Văn L1 (cha của ông D) nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho mượn. Ông D xuất trình “Giấy giao kèo về đất đai ngày 17/4/2000” có dấu lăn tay của bà C, chứng minh bà C đã tái xác nhận việc gia đình ông D cho gia đình bà C mượn đất. Bà C phủ nhận việc tái xác nhận; đồng thời nội dung “Giấy giao kèo về đất đai ngày 17/4/2000” chỉ thể hiện bà C hứa khi bán đất sẽ cho gia đình ông D 04 cây vàng 24K, không thể hiện nội dung bà C xác nhận có mượn đất của gia đình ông D. Vì vậy, lời trình bày của ông D không có cơ sở chấp nhận.

Trong khi đó, phần diện tích đất tranh chấp theo tài liệu năm 1990 thuộc thửa XX, diện tích 690m2 do bà Trương Thị C kê khai, đứng tên trong sổ mục kê; Theo tài liệu năm 2005 thuộc thửa 42, tờ bản đồ số 29, diện tích 577,7m2 do bà C kê khai đăng ký, đứng tên trong sổ dã ngoại. Như vậy, gia đình bà C có quá trình sử dụng đất ổn định từ trước giải phóng đến nay; quá trình sử dụng đất đã đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước. Ngày 14/11/2000, UBND huyện H ban hành Quyết định số 130/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3637/QSDĐ cho bà Trương Thị C là đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn D là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trương Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hữu R – đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn D.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1797/2020/DS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai 1993; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D đòi bà Trương Thị C phải trả lại phần đất diện tích 189m2 thuộc thửa XX-1, tờ bản đồ số YY, xã Xuân Thới Thượng, huyện H.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D đòi bà Trương Thị C phải trả lại phần đất diện tích 501m2 thuộc thửa XX-1, tờ bản đồ số YY, xã X, huyện H (theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 11/5/2020).
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D về việc hủy Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 14/11/2000 của UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3637/QSDĐ ngày 14/11/2000 cho bà Trương Thị C.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Văn D phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (do ông Trần Hữu R nộp thay) theo biên lai thu số 0092961 ngày 03/11/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; đương sự đã thực hiện xong.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- TAND TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Cục THADS TP.HCM;
- ĐS (9);
- Lưu VP(3), HS(2).19b.HDT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Thu Thủy
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2022/DS-PT ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định hành chính

  • Số bản án: 70/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/01/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trương Văn D kiện bà Trương Thị C về Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định hành chính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger