|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN Bản án số: 70/2022/DS-PT Ngày 06-4-2022 “V/v Tranh chấp hụi” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Tuyền
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc, Ông Lê Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Khổng Văn Đa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2022/TLPT-DS ngày 20 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2021/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 42/2022/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huỳnh L, sinh năm 1948;
Nơi cư trú: Ấp 7, xã N, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Số 49, Đường N1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Trần Thị Thu V, sinh năm 1958;
2.2. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1956;
Cùng nơi cư trú: Ấp 7, xã N, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp cho bị đơn bà V: Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Số 28 khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Thu V và ông Huỳnh Văn H.
Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 3 năm 2021 của ông Nguyễn Huỳnh L cùng lời trình bày của ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp như sau:
Ông L là chủ hụi, bà V là hụi viên có tham gia các dây hụi, cụ thể như sau:
- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 15 tháng 8 năm 2019, gồm 20 phần, bà V tham gia 04 phần và đã hốt 04 phần hụi; dây hụi kết thúc vào ngày 15 tháng 3 năm 2021. Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, các bên đã thống nhất nợ tiền hụi tính đến ngày 15 tháng 5 năm 2020 là 07 tháng. Như vậy, bà V còn nợ tiền hụi tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2020 đến ngày 15 tháng 3 năm 2021 là 10 tháng x 04 phần = 40.000.000 đồng;
- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 05 tháng 11 năm 2018 (âm lịch), gồm 20 phần, bà V tham gia 03 phần và đã hốt 03 phần, dây hụi kết thúc vào ngày 05 tháng 5 năm 2020 (âm lịch) tức ngày 25 tháng 6 năm 2020 (dương lịch). Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, các bên đã thống nhất về số tiền nợ hụi tính đến ngày 05 tháng 4 năm 2020 (âm lịch) là 05 tháng. Như vậy, bà V còn nợ tiền hụi tính đến ngày 05 tháng 5 năm 2020 (âm lịch) là 01 tháng x 03 phần = 3.000.000 đồng;
- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 30 tháng 11 năm 2018, gồm 20 phần, bà V tham gia 04 phần và đã hốt 04 phần hụi, dây hụi này kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm 2020. Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, các bên đã thống nhất nợ tiền hụi tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2020 là 06 tháng. Như vậy, bà V còn nợ tiền hụi tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2020 là 01 tháng x 04 phần = 4.000.000 đồng;
- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 10 tháng 3 năm 2019 (âm lịch), gồm 20 phần, bà Thu V tham gia 02 phần và đã hốt 02 phần, dây hụi kết thúc vào ngày 10 tháng 9 năm 2020 (âm lịch) tức ngày 25 tháng 10 năm 2020 (dương lịch). Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, các bên đã thống nhất nợ tiền hụi tính đến ngày 10 tháng 4 năm 2020 (âm lịch) là 06 tháng. Như vậy, bà V còn nợ tiền hụi tính từ ngày 10 tháng 5 năm 2020 (âm lịch) đến ngày 10 tháng 9 năm 2020 (âm lịch) là 5 tháng x 02 phần = 10.000.000 đồng;
- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui hụi ngày 20 tháng 11 năm 2018 (âm lịch), gồm 20 phần, bà V tham gia 03 phần và đã hốt 03 phần, dây hụi kết thúc vào ngày 20 tháng 5 năm 2020 (âm lịch) tức ngày 10 tháng 7 năm 2020 (dương lịch). Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, các bên đã thống nhất nợ tiền hụi tính đến ngày 10 tháng 4 năm 2020 (âm lịch) là 07 tháng. Như vậy, bà V còn nợ tiền hụi tính đến ngày 10 tháng 5 năm 2020 (âm lịch) là 01 tháng x 03 phần = 3.000.000 đồng;
- Dây hụi tháng 1.000.000 đồng, khui ngày 12 tháng 5 năm 2019, bao gồm 20 phần, bà V tham gia 04 phần và đã hốt 04 phần, dây hụi kết thúc vào ngày 12 tháng 12 năm 2020. Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, các bên đã thống nhất nợ tiền hụi tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2020 là 07 tháng. Như vậy, bà V còn nợ tiền hụi tính từ ngày 12 tháng 7 năm 2020 đến ngày 12 tháng 12 năm 2020 là 6 tháng x 04 phần = 24.000.000 đồng;
Bà V là người trực tiếp tham gia các dây hụi và sử dụng số tiền hụi đã hốt vào mục đích chi tiêu sinh hoạt trong gia đình; ông H là chồng bà V biết rõ việc bà V tham gia các dây hụi vì nhà bà V và nhà ông Long ở gần nhau, nhiều lần ông L đến nhà bà V thu hụi thì có mặt ông H ở nhà. Do đó, yêu cầu vợ chồng bà V, ông H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L số tiền trên.
Bị đơn bà Trần Thị Thu V và ông Huỳnh Văn H có lời trình bày như sau:
Bà V và ông H sống chung từ năm 1977 cho đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn, có 02 con chung đã trưởng thành. Bà V xác định có tham gia các dây hụi do ông L làm chủ, cụ thể như sau: (Bà V thừa nhận tham gia 6 dây hụi tương tự như trình bày của nguyên đơn nhưng cho rằng vụ việc đã được giải quyết xong bằng Quyết định số 90/2020/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020).
[4.1] Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành ngày 13 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thể hiện bà V chỉ thanh toán cho ông L số tiền nợ hụi tính đến ngày hòa giải (ngày 13 tháng 6 năm 2020) nên Tòa án nhân dân huyện Bến Lức ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 90/2020/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020. Số tiền nợ hụi sau ngày 13 tháng 6 năm 2020 chưa đến hạn nên ông L chưa yêu cầu. Do đó, sau khi các dây hụi kết thúc ông L tiếp tục khởi kiện yêu cầu là có căn cứ.
Tổng cộng các dây hụi trên bà V còn nợ ông L là 84.000.000 đồng nên Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Long là có căn cứ.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Thu V và ông Huỳnh Văn H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2021/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huỳnh L về tranh chấp hụi đối với bà Trần Thị Thu V và ông Huỳnh Văn H.
Buộc bà Trần Thị Thu V và ông Huỳnh Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Huỳnh L số tiền 84.000.000 đồng (tám mươi bốn triệu đồng).
2. Về án phí: Bà Trần Thị Thu V và ông Huỳnh Văn H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. HCM; - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện Bến Lức; - Chi cục THADS huyện Bến Lức; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bích Tuyền |
Bản án số 70/2022/DS-PT ngày 06/04/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về tranh chấp hụi
- Số bản án: 70/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/04/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
