Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG


Bản án số: 70/2021/DS-PT
Ngày 28 - 6 - 2021
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Phụng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành, Ông Trần Nam Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2021/TLPT-DS ngày 11 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 86/2021/QĐ-PT ngày 31 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Lê Anh T, sinh năm 1978. (Có mặt)
    Địa chỉ: N, Khóm T, Phường M, thị xã T, tỉnh Sóc Trăng.
  • Bị đơn:
    1. Ông Lê Văn Ng (Ch), sinh năm 1980. (Có mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1982. (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/6/2021)
    Cùng địa chỉ: Số B, khóm Tân Q, Phường H, thị xã T, tỉnh Sóc Trăng.
  • Người kháng cáo: Ông Lê Văn Ng (Ch) là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2020, nguyên đơn ông Lê Anh T trình bày: Vào ngày 22/7/2019 âm lịch ông Lê Văn Ng và bà Nguyễn Thị C có vay của ông số tiền là 670.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng. Sau đó, đến ngày 28/7/2019 âm lịch thì phía ông Ng và bà C trả cho ông được số tiền là 450.000.000 đồng, còn thiếu lại số tiền là 220.000.000 đồng. Đến ngày 03/3/2020 âm lịch ông Ng và bà C trả cho ông thêm được số tiền là 100.000.000 đồng bao gồm: trả tiền lãi là 59.400.000 đồng và tiền vốn là 40.600.000 đồng, còn thiếu lại tiền vốn tổng cộng là 179.400.000 đồng. Khi trả thì ông có làm biên nhận, hiện biên nhận phía ông Ng giữ. Đối với biên nhận các bị đơn cung cấp ông thừa nhận là chữ viết và chữ ký của ông tuy nhiên số tiền đã bị tẩy xóa từ chữ một thành chữ hai nên ông không chấp nhận, ông đề nghị phía ông Ng cung cấp bản chính để đối chiếu hoặc giám định.

Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T giải quyết buộc các bị đơn Lê Văn Ng và bà Nguyễn Thị C trả ông số tiền 206.310.000 đồng trong đó vốn gốc là 179.400.000 đồng, lãi tính đến ngày 07/10/2020 là 26.910.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 08/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất do pháp luật quy định.

* Bị đơn Lê Văn Ng trình bày: Ông thừa nhận vào ngày 22/7/2019 âm lịch vợ chồng ông có hỏi vay của ông Lê Anh T số tiền là 670.000.000 đồng để đáo nợ Ngân hàng. Đến này 28/7/2019 âm lịch thì trả được số tiền là 450.000.000 đồng và tiền lãi là 13.500.000 đồng, vợ chồng ông còn nợ lại ông T số tiền là 220.000.000 đồng, do không có tiền trả nên hẹn lại vụ lúa đông xuân năm 2020 sẽ trả đầy đủ cho ông T cả vốn và lãi.

Đến ngày 23/3/2020 âm lịch thì vợ chồng ông đã gởi trả cho ông T được số tiền là 200.000.000 đồng, ông T có làm biên nhận cho ông. Tuy nhiên, do biên nhận được viết trong sổ cân lúa nhưng hiện nay cuốn sổ này đã bị thất lạc nên ông không thể cung cấp bản chính được. Trước khi cuốn sổ bị thất lạc thì ông có chụp lại biên nhận này trên điện thoại, nhưng do chụp ban đêm nên hơi bị mờ. Sau đó đến ngày 23/4/2020 thì ông T có yêu cầu ông trả số tiền là 220.000.000 đồng, ông không đồng ý vì đã trả 200.000.000 đồng rồi, nhưng ông T nói số tiền 200.000.000 đồng là trả tiền lãi, còn thiếu tiền nợ gốc là 220.000.000 đồng. Sau đó ông T có hâm dọa, chặn đường đánh ông và sự việc này ông có nhờ chính quyền địa phương giải quyết.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông không đồng ý. Ông đồng ý trả cho ông T số tiền còn thiếu là 20.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 28/7/2019 âm lịch đến ngày 23/3/2020 âm lịch đối với số tiền là 220.000.000 đồng và trả tiền lãi từ ngày 23/3/2020 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm đối với số tiền là 20.000.000 đồng. Về mức lãi suất trước đây các bên thỏa thuận là 3% nhưng nay ông yêu cầu tính theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn bà Lê Thị C trình bày: Bà đồng ý với lời trình bày và yêu cầu của chồng bà là ông Lê Văn Ng, ngoài ra bà không yêu cầu gì thêm.

Sự việc được Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 24 tháng 03 năm 2021 đã tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Anh T. Buộc các bị đơn ông Lê Văn Ng và bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Lê Anh T tổng số tiền là 174.027.161 đồng (trong đó vốn gốc là 145.320.533 đồng và tiền lãi là 28.706.628 đồng).

Ngày 07/4/2021, bị đơn ông Lê Văn Ng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo của ông Lê Văn Ng là phù hợp quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên kháng cáo của ông Ng là hợp lệ và đúng theo luật định.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; việc vắng mặt của bà cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét kháng cáo của ông Ng, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, cũng như tại tờ tường trình ngày 22/12/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ng đều thừa nhận có vay của ông T số tiền là 670.000.000 đồng để đáo nợ Ngân hàng. Đến này 28/7/2019 âm lịch thì trả được số tiền là 450.000.000 đồng và tiền lãi là 13.500.000 đồng, vợ chồng ông còn nợ lại ông T số tiền là 220.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm căn cứ vào lời thừa nhận nợ của ông Ng, để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông Ng, bà C trả cho ông T số tiền 174.027.161 đồng là có căn cứ. Ông Ng kháng cáo chỉ còn thiếu và đồng ý trả ông T tiền vốn là 20.000.000 đồng và tiền lãi là 59.400.000 đồng là không có cơ sở, bởi lẽ ông T không thừa nhận việc này và trong quá trình giải quyết vụ án ông Ng chỉ cung cấp được cho Tòa án bản photo tờ biên nhận ngày 23/3/2020 âm lịch nội dung “Tôi Lê Anh T có nhận tiền trả nợ của ông Ng là hai trăm triệu đồng”. Tuy nhiên, biên nhận được viết trong sổ cân lúa của ông Ng nhưng hiện nay cuốn sổ này đã bị thất lạc nên ông không thể cung cấp bản chính được. Vì vậy, kháng cáo của ông Ng không được chấp nhận.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Ng và căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Ng. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2021/DS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2021 của Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Sóc Trăng như sau:

  1. Buộc các bị đơn ông Lê Văn Ng và bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Lê Anh T tổng số tiền là 174.027.161 đồng (một trăm bảy mươi bốn triệu không trăm hai mươi bảy ngàn một trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó vốn gốc là 145.320.533 đồng và tiền lãi là 28.706.628 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Anh T về việc buộc các bị đơn ông Lê Văn Ng và bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả số tiền lãi tính vượt là 32.282.839 đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Lê Văn Ng và bà Nguyễn Thị C cùng có trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.701.358 đồng. Nguyên đơn ông Lê Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.614.142 đồng.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn Ng phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND TX. N;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- VKSND TX. N;
- Chi cục THADS TX. N;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đã ký

Hồ Văn Phụng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2021/DS-PT ngày 28/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 70/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Lê Anh Tú BĐ: Lê Văn Ngôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger