TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 07/2024/KDTM-ST Ngày: 30/5/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Bạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/TLST-KDTM ngày 15 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-KDTM ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH X
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X: Ông Trương Công Lưu
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Hải H – Sinh năm: 1982 (Có mặt)
Địa chỉ: Hẻm C đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Công ty TNHH X1
Địa chỉ trụ sở: Số B Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Thành T – Sinh năm: 1969 – Chức danh: Giám đốc (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số B Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Công ty TNHH X là ông Lưu Hải H trình bày:
Ngày 04/12/2020, Công ty TNHH X1 (Bên mua) và Công ty TNHH X (Bên bán) ký kết Hợp đồng mua bán Bê tông xi măng số 04/12/20MBBT-PX. Theo nội dung hợp đồng bên bán sẽ cung cấp cho bên mua bê tông trộn sẵn theo đơn đặt hàng của bên mua. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH X đã giao bê tông nhiều lần cho Công ty TNHH X1.
Ngày 28/7/2022, giữa Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH X tiến hành đối chiếu công nợ. Theo Bảng đối chiếu công nợ thì Công ty TNHH X1 còn nợ Công ty TNHH X số tiền là 152.351.438 đồng (Trong đó có 131.055.000 đồng là nợ gốc và 21.296.438 đồng là nợ lãi tính từ ngày 29/6/2021 đến ngày 31/7/2022 theo lãi suất 15%/năm).
Nay Công ty TNHH X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH X1 phải trả cho Công ty TNHH X số tiền là 152.351.438 đồng (Trong đó có 131.055.000 đồng là nợ gốc và 21.296.438 đồng là nợ lãi tính từ ngày 29/6/2021 đến ngày 31/7/2022 theo lãi suất 15%/năm) theo Hợp đồng mua bán Bê tông xi măng số 04/12/20MBBT-PX và buộc Công ty TNHH X1 phải trả cho Công ty TNHH X khoản lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật kể từ ngày 01/8/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ đối với khoản nợ gốc 131.055.000 đồng.
Công ty TNHH X xác nhận tính đến ngày chốt công nợ theo Bảng đối chiếu công nợ ngày 28/7/2022 thì ngoài khoản tiền còn nợ nói trên, giữa Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH X không còn tồn tại khoản công nợ nào khác.
* Bị đơn Công Ty TNHH X1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng cố tình không hợp tác làm việc, vắng mặt tham gia tố tụng nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Đây là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm
a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430, Điều 433, Điều 434, Điều 440, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật thương mại năm 2005; Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X. Buộc Công Ty TNHH X1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền 152.351.438 đồng (Trong đó có 131.055.000 đồng là nợ gốc và 21.296.438 đồng là nợ lãi tính từ ngày 29/6/2021 đến ngày 31/7/2022 theo lãi suất 15%/năm) và tiền lãi do chậm trả kể từ ngày 01/8/2022 đến ngày thanh toán hết nợ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị đơn Công Ty TNHH X1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn Công ty TNHH X không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn Công ty TNHH X khởi kiện bị đơn Công Ty TNHH X1 có địa chỉ trụ sở tại Số B đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lí do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công Ty TNHH X1 phải trả cho Công ty TNHH X số tiền 152.351.438 đồng, trong đó có 131.055.000 đồng là nợ gốc và 21.296.438 đồng là nợ lãi tính từ ngày 29/6/2021 đến ngày 31/7/2022 theo lãi suất 15%/năm và buộc công ty TNHH X1 phải tiếp tục trả tiền lãi do chậm trả từ ngày 01/8/2022 đến ngày thanh toán hết nợ theo lãi suất quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 04/12/2020, Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH X ký kết Hợp đồng mua bán Bê tông xi măng số 04/12/20MBBT-PX về việc mua bán bê tông trộn sẵn theo
đơn đặt hàng của bên mua. Ngày 28/7/2022, Công ty TNHH X1 và Công ty TNHH X lập Bảng đối chiếu công nợ với nội dung Công ty TNHH X1 xác nhận còn nợ Công ty TNHH X số tiền 131.055.000 đồng là tiền mua bê tông tươi theo Hợp đồng mua bán Bê tông xi măng số 04/12/20MBBT-PX ngày 04/12/2020 và tiền lãi do quá hạn chưa thanh toán từ ngày 29/6/2021 đến ngày 31/7/2022 là 21.296.438 đồng, tổng cộng là 152.351.438 đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 152.351.438 đồng.
[3.2] Về tiền lãi:
Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa Công ty TNHH X yêu cầu bị đơn chịu lãi suất chậm trả kể từ ngày 01/8/2022 cho đến ngày bị đơn thanh toán hết nợ theo quy định của pháp luật.
Điều 306 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005: “Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N1, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N2,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Tiền lãi kể từ ngày 01/8/2022 đến ngày xét xử ngày 30/5/2024 được tính cụ thể như sau: 131.055.000 đồng x 12,6%/năm x 01 năm 09 tháng 29 ngày = 30.227.835 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử là 30.227.835 đồng.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 430, Điều 433, Điều 434, Điều 440, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật thương mại năm 2005;
Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH X.
Buộc Công ty TNHH X1 có nghĩa vụ phải trả cho Công ty TNHH X số tiền hàng còn nợ là 131.055.000 đồng, tiền lãi 21.296.438 đồng, tiền lãi chậm trả 30.227.835 đồng (tính đến ngày xét xử), tổng cộng là 182.579.273 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật thương mại năm 2005.
Về án phí: Bị đơn Công ty TNHH X1 phải chịu 9.128.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Công ty TNHH X không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí 3.809.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu số AA/2023/000493 ngày 05/12/2023.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 07/2024/KDTM-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Số bản án: 07/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ
