|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ - ST
Ngày 23/5/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Viết Tuấn
Bà Lê Thị Liền
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Hưng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng xét xử công khai vụ án thụ lý số 04/2025/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Ngô Ngọc T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 06/02/2025, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 11/4/2025 và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị Kim O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc T1 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Quảng Trị vào ngày 29/7/2015. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp. Chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn anh Ngô Ngọc T.
Về nuôi con chung: Chị và anh Ngô Ngọc T có 02 con chung là cháu Ngô Nguyễn Trà M, sinh ngày 02/10/2016 và Ngô Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 05/4/2019. Chị O có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trà M còn giao cháu Ngọc K cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng anh Ngô Ngọc T không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim O.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- - Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, 35, 39, 97, 177, 195, 196, 203, 208, 220, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Chị Nguyễn Thị Kim O đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Ngô Ngọc T chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về hướng giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với anh Ngô Ngọc T.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình. Giao cháu Ngô Nguyễn Trà M, sinh ngày 02/10/2016 cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Ngô Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 05/4/2019 cho anh Ngô Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Kim O yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Ngọc T, đồng thời chị O yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và vụ án không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tuy nhiên, chỉ có chị Nguyễn Thị Kim O thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định quy định tại Điều 70, 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Ngô Ngọc T chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T đã được tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện ghi ngày 06/02/2025, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 11/4/2025 và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Ngô Ngọc T có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp và hiện nay hai bên sống mỗi người một nơi và không quan tâm, liên lạc gì với nhau. Tại biên bản xác minh ngày 04/3/2025, Hội liên hiệp phụ nữ xã H cung cấp thông tin: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Ngô Ngọc T đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2015, quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Ngọc T không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim O, điều đó thể hiện anh T không có mong muốn đoàn tụ gia đình.
Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim O và anh Ngô Ngọc T không đạt được, tình cảm vợ chồng nay không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Ngô Ngọc T.
[5]. Về nuôi con chung: Chị O và anh T có 02 con chung là cháu Ngô Nguyễn Trà M, sinh ngày 02/10/2016 và Ngô Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 05/4/2019. Chị O có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trà M, còn giao cháu Ngọc K cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Thấy rằng, hiện nay cháu Trà M đang ở với chị O còn cháu Ngọc K đang ở với anh T. Ngoài ra, cháu M có nguyện vọng được ở với chị O, trong khi đó cháu K đang ở với anh T và hàng ngày anh T là người đưa đón cũng như đóng các khoản thu nộp tại nhà trường cho cháu K. Để bảo vệ quyền lợi và không xáo trộn cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các cháu nên cần chấp nhận yêu cầu của chị O.
[6]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Ngô Ngọc T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Ngô Nguyễn Trà M, sinh ngày 02/10/2016 cho chị Nguyễn Thị kim O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Ngô Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 05/4/2019 cho anh Ngô Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số BLTU2023/0000360 ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng. Chị Nguyễn Thị Kim O đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Khánh |
Bản án số 07/2025/HNGĐ - ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim O- Ngô Ngọc T
