|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/DS-ST Ngày 30-5-2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thành, bà Đình Thị Thanh Hải.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2024/TLST- DS ngày 29-11-2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-DS ngày 29-4-2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 08/2025/TB-XX ngày 19-5-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O).
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Viết T1; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh C; địa chỉ: Tầng A và tầng B, số F H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
Người được ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Trần Văn T2, ông Lê Đình N và ông Phan Lạc M- Chuyên viên thu hồi nợ; địa chỉ: Tầng A và tầng B, số F H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. Ông Trần Văn T2 và ông Lê Đình N vắng mặt; ông Phan Lạc M có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1976 và bà Phan Thị T3, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, phường H (phường N cũ), thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Ông H và bà T3 đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Hoàng Văn H1; sinh năm 1977.
- + Ông Hoàng Văn B; sinh năm 1952.
- + Bà Hoàng Thị N1; sinh năm 1954.
Cùng địa chỉ: Thôn C, A, xã C (xã T cũ), huyện Q, thành phố Hà Nội. Ông H1, ông B và bà N1 đều vắng mặt, đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 09-8-2024; bản tự khai ngày 17-12-2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại cổ phần P do người đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Viết T1; người được ủy quyền lại tham gia tố tụng là ông Phan Lạc M trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần P với ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần P, chi tiết như sau:
Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-08-2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số: 0030/2022/SĐBS-HDTD ngày 27-8-2022 và Khế ước nhận nợ số 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-09-2022:
- + Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng.
- + Mục đích vay: Vay mua bất động sản.
- + Thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên.
- + Lãi suất vay: 8,99%/năm, cố định trong 12 tháng đầu được áp dụng theo Thông báo số 378/2022/QĐ-TGĐ ngày 03-06-2022. Từ tháng 13 trở đi, lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (kỳ điều chỉnh lãi suất). Kỳ điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 08-09-2023 với công thức tính lãi như sau:
Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + Biên độ tối thiểu (2).
Trong đó: (i) Lãi suất cơ sở (1) là Lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được Tổng giảm đốc ban hành từng thời kỳ: (ii) Biên độ tối thiểu (2): 3,5%/năm;
- + Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; diện tích: 255,7 m²; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477, số vào sổ cấp GCN: CH 1401 do UBND huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-04-2013 đứng tên ông Hoàng Văn H1. Ngày 22-08-2022, Văn phòng Đ1 - Chi nhánh huyện Q xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc H và vợ là bà Phan Thị T3 theo mã hồ sơ số 222200.CN4468.
Tài sản bảo đảm trên đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-08-2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P với ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội và đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Tài sản gắn liền với đất là 03 gian nhà cấp 4 thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Ngọc H và vợ là bà Phan Thị T3. Ngân hàng không hề biết việc ông H, bà T3 cho ông H1 thuê đất và cũng không được thông báo.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần P đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ và các cam kết đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.
Tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại cổ phần P đề nghị Hội đồng xét xử:
Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-08-2022; Khế ước nhận nợ số 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-09-202 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P với ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 tạm tính đến ngày 30-5-2025 là 1.754.546.147 đồng, bao gồm nợ gốc: 1.430.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 254.543.551 đồng; lãi quá hạn: 51.624.616 đồng; lãi chậm trả: 18.377.980 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 31-5-2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
Trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-08-2022 nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-08-2022 để thu hồi nợ. Chi tiết tài sản bảo đảm như sau:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; diện tích: 255,7 m²; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Q, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477, số vào sổ cấp GCN: CH 1401 do UBND huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-04-2013 đứng tên ông Hoàng Văn H1. Ngày 22-08-2022, Văn phòng Đ1 - Chi nhánh huyện Q xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc H và vợ là bà Phan Thị T3 theo mã hồ sơ số 222200.CN4468.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.
Tại Bản tự khai và biên bản ghi lời khai ngày 28-3-2025, bị đơn- ông Nguyễn Ngọc H trình bày:
Do cần tiền để mua bất động sản nên vợ chồng ông là Nguyễn Ngọc H và Phan Thị T3 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số: 0030/2022/SĐBS-HDTD ngày 27-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P- Chi nhánh C để vay tổng số tiền là: 1.500.000.000 đồng; thời hạn vay 300 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên. Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 08-9-2047; lãi suất cho vay trong hạn: 8,99%/năm, cố định trong 12 tháng đầu được áp dụng theo Thông báo số 378/2022/QĐ-TGĐ ngày 03-6-2022; lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Ngoài ra còn thỏa thuận các nội dung khác theo đúng Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung và Khế ước nhận nợ mà Ngân hàng đã giao nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Sau khi ký kết Hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng ông đủ số tiền đã vay là 1.500.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản tiền vay, ngày 27-8-2022, vợ chồng ông đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477, số vào sổ cấp GCN: CH1401 do UBND huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-4-2013 mang tên ông Hoàng Văn H1, đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông theo mã số hồ sơ số 222200.CN4468; thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; địa chỉ thửa đất: Thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội; diện tích: 255,7m²; hình thức sử dụng: Riêng 255,7m²; mục đích sử dụng: Đất ở; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất. Tài sản gắn liền với đất là: 03 gian nhà cấp 4. Hiện nay, đang sinh sống trong ngôi nhà đang thế chấp có ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị N1 là bố mẹ đẻ của ông Hoàng Văn H1.
Về mối quan hệ giữa ông và ông Hoàng Văn H1: Ông và ông H1 là bạn bè. Do ông H1 không đủ điều kiện để vay vốn Ngân hàng nên năm 2022, vợ chồng ông và ông Hoàng Văn H1 đã thống nhất làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477; số vào sổ cấp GCN: CH1401 do Ủy ban nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-4-2013. Thông tin thửa đất: thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội; diện tích 255,7m²; mục đích sử dụng: Đất ở mang tên ông Hoàng Văn H1, tài sản trên đất nhà cấp 4 để cho vợ chồng ông vay tiền của Ngân hàng O. Các ông, bà thống nhất với nhau sau khi Ngân hàng giải ngân sẽ cùng sử dụng khoản tiền này để đầu tư kinh tế và sẽ cùng có nghĩa vụ trả nợ khoản vay này cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đây là thỏa thuận ngoài giữa vợ chồng ông với ông H1, thỏa thuận này không lập thành văn bản. Ông xác định vợ chồng ông là người ký kết Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số: 0030/2022/SĐBS-HDTD ngày 27-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P- Chi nhánh C nên về mặt pháp lý, việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần P khởi kiện vợ chồng ông là đúng và ông H1 không có nghĩa vụ phải trả nợ Ngân hàng trong vụ án này. Đến nay, vợ chồng ông và ông H1 vẫn tuân thủ thỏa thuận đó và không có tranh chấp gì với nhau liên quan đến khoản nợ này.
Việc vợ chồng ông vay tiền Ngân hàng không liên quan gì đến ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị N1.
Sau khi vay, vợ chồng ông đã trả được 70.000.000 đồng tiền gốc; 158.792.355 đồng lãi trong hạn và 397.662 đồng lãi quá hạn. Từ ngày 10-11-2023, do gặp nhiều khó khăn trong công việc nên vợ chồng ông đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Đến nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải thanh toán số nợ gốc, lãi cho vay trong hạn, lãi quá hạn và các khoản tiền lãi, phí phát sinh tạm tính đến ngày 08-11-2024 cùng các yêu cầu khác theo nội dung Thông báo về việc thụ lý vụ án số 77/TB-TLVA ngày 29-11-2024 mà vợ chồng ông đã được giao nhận. Đồng thời, tại buổi làm việc tại Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, ông cũng đã được Ngân hàng thông báo về bảng kê tính lãi của Ngân hàng tính đến ngày 28-3-2025, ông đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái cho ông thêm thời gian để sao kê tài khoản Ngân hàng, đối chiếu lại số tiền ông đã trả cho Ngân hàng. Trường hợp không khớp với số tiền gốc và lãi trong bảng kê tính lãi của Ngân hàng tính đến ngày 28-3-2025 thì ông cam kết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 28-3-2025, ông sẽ giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ và văn bản thể hiện ý kiến của ông đối với số tiền mà Ngân hàng khởi kiện. Hết thời hạn trên, nếu ông không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì và không có văn bản thể hiện ý kiến gửi Tòa án thì đồng nghĩa với việc ông đồng ý với toàn bộ nội dung khởi kiện của Ngân hàng. Tuy nhiên, mấy năm nay việc kinh doanh của gia đình ông gặp nhiều khó khăn, chưa có khả năng trả được số tiền nợ cho Ngân hàng nên nguyện vọng của ông là đề nghị Ngân hàng rút đơn khởi kiện, vợ chồng ông sẽ cố gắng thu xếp tiền để trả cho Ngân hàng chậm nhất vào ngày 01-12-2025 và miễn, giảm phần lãi phạt trong thời gian vợ chồng ông đã chậm trả. Trong trường hợp Ngân hàng không đồng ý với nguyện vọng của ông thì ông cũng đã thống nhất với ông B và bà N1 về việc Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp mà vợ chồng ông đã thế chấp cho Ngân hàng theo quy định.
Ông không có yêu cầu phản tố trong vụ án này. Ngoài ra, ông không có ý kiến, đề nghị gì khác.
Bị đơn- bà Phan Thị T3 đã được Tòa án tống đạt tất cả các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Tại bản tự khai ngày 01-3-2025 (theo tài liệu ủy thác của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội thực hiện) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn H1 trình bày:
Ông và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 có quan hệ là bạn bè và các ông, bà có cùng tham gia làm ăn kinh tế. Do ông không đủ điều kiện vay vốn Ngân hàng để kinh doanh nên ông đã đồng ý sang tên chuyển nhượng quyền sở hữu đối với tài sản là thửa đất số 76; tờ bản đồ số 4; địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Hà Nội; mục đích sử dụng đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477; số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 1401 do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05-4-2013 mang tên ông Hoàng Văn H1 (chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 theo mã hồ sơ số: 222200.CN.4468). Việc ông chuyển quyền sử dụng thửa đất nói trên với mục đích để ông H và bà T3 vay vốn Ngân hàng cho nên hiện nay bố mẹ ông là ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị N1 đang ở trên thửa đất đó. Chính vì vậy, ông khẳng định không có sự việc ông thuê thửa đất trên của ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3.
Sau khi nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án số 77/TB-TLVA ngày 29-11-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, ông có quan điểm như sau:
Về số nợ phải thanh toán: Ông xác nhận ông và ông H có nợ Ngân hàng P như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là đúng. Các ông xác nhận số nợ trên và có trách nhiệm thanh toán trả dần đến cuối năm 2025.
Về tài sản đã thế chấp trong Ngân hàng hiện nay đang đứng tên ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3, ông hoàn toàn đồng ý và không có ý kiến thắc mắc gì. Các ông, bà sẽ cố gắng thu xếp trả nợ Ngân hàng để Ngân hàng không phải xử lý tài sản thế chấp.
Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và từ chối tham gia tố tụng, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.
Căn cứ vào nội dung trình bày của ông Hoàng Văn H1 tại bản tự khai ngày 01-3-2025, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái ban hành Thông báo về việc giao nộp tài liệu chứng cứ số 18/TB-TA ngày 05-3-2025, yêu cầu ông H1 giao nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận giữa ông H1 và ông H, bà T3 về việc cùng nhau vay tiền của Ngân hàng O và các tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh cho nội dung trình bày của ông H1 tại bản tự khai ngày 01-3-2025.
Tại Đơn trình bày ngày 19-3-2025, ông Hoàng Văn H1 trình bày:
Như ông đã khai tại bản tự khai ngày 01-3-2025, mục đích ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 là để cho ông H và bà T3 vay tiền của Ngân hàng O. Các ông bà thống nhất với nhau sau khi Ngân hàng giải ngân, các ông, bà sẽ cùng sử dụng khoản tiền này để đầu tư kinh tế và sẽ cùng có nghĩa vụ trả nợ khoản vay này cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đây là thỏa thuận ngoài giữa ông và ông H, bà T3 và thỏa thuận này không lập thành văn bản nên ông không có tài liệu, chứng cứ gì để giao nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Ông không phải là người ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng O mà ông H và bà T3 là người trực tiếp ký kết các hợp đồng với Ngân hàng. Đến nay, các ông, bà vẫn tuân thủ thỏa thuận đó và không có tranh chấp gì với nhau. Vì bản chất sự việc là như vậy nên tại bản tự khai ngày 01-3-2025 ông mới xác nhận ông và ông H cùng nợ Ngân hàng và cùng nhận trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.
Đến nay, Ngân hàng TMCP P (O) khởi kiện ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 tại Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Đối với những yêu cầu của Ngân hàng TMCP P (O) tại Thông báo về việc thụ lý số 77/TB-TLVA ngày 29-11-2024, ông hoàn toàn nhất trí. Về mặt pháp lý, việc Ngân hàng khởi kiện ông H và bà T3 là đúng, còn thỏa thuận ngoài giữa ông và ông H, bà T3 về khoản nợ và trách nhiệm trả nợ không liên quan đến vụ án này. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái căn cứ vào hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký kết giữa Ngân hàng và bị đơn để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 26-02-2025, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất thế chấp. Kết quả:
- - Vị trí thửa đất: Phía Bắc giáp thửa 68 T12 ông Hoàng Duy L; phía nam giáp thửa 77 T12 ông Hoàng Văn K; phía Đông giáp thửa 78 T12 ông Hoàng Đăng Đ; phía Tây giáp đường giao thông + T65 + T75. Diện tích thửa đất 255,7m² đất ở lâu dài.
- Trên đất hiện có ông Hoàng Văn B, sinh năm 1952 và bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1954 là bố mẹ đẻ của ông Hoàng Văn H1 đang ở. Ngoài ra, không có ai khác.
- - Công trình xây dựng trên đất gồm: 01 nhà ở cấp 4 đã cũ kết cấu bằng tre gỗ lợp mái ngói, xây dựng năm 1969 không có cải tạo sửa chữa lớn. Diện tích nhà 45m²; 01 gian nhà bếp + công trình đã cũ khung tre lợp ngói xây dựng năm 1969, không có cải tạo lớn, diện tích 30m².
Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã xác định và đưa ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị N1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 26-02-2025 (theo tài liệu ủy thác của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội thực hiện) và bản tự khai ngày 19-3-2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn B trình bày:
Ông là bố đẻ của ông Hoàng Văn H1. Ngày 26-02-2025, ông đã làm việc với Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội và đã thể hiện ý kiến của mình tại biên bản ghi lời khai. Sau đó, ông đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án số 77/TB-TLVA ngày 29-11-2024; Thông báo số 19/2025/TB-TA ngày 05-3-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, bổ sung ông tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Ông có ý kiến như sau:
Về khoản nợ mà ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 đã vay của Ngân hàng O không liên quan đến vợ chồng ông.
Về thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội; diện tích 255,7m²; mục đích sử dụng: Đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477; số vào sổ cấp GCN: CH1401 do Ủy ban nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-4-2013 mang tên ông Hoàng Văn H1 và tài sản gắn liền với đất là tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông H và bà T3 tại Ngân hàng O: Về mặt pháp lý, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là của ông H1 và ông được biết ông H1 đã chuyển nhượng nhà và đất cho ông H, bà T3, sau đó ông H và bà T3 đã sử dụng tài sản này để thế chấp đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng O. Thỏa thuận về việc chuyển nhượng giữa ông H1 với ông H và bà T3 như thế nào thì ông không biết nhưng từ khi ông H1 chuyển nhượng cho ông H và bà T3 đến nay, vợ chồng ông vẫn ở trong ngôi nhà này. Trong trường hợp ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 không trả được nợ cho Ngân hàng thì ông cũng đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản theo quy định của pháp luật. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giải quyết vụ án vắng mặt ông.
Nội dung trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị N1 tại bản tự khai ngày 19-3-2025 phù hợp với ý kiến trình bày của ông Hoàng Văn B. Bà N1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giải quyết vụ án vắng mặt bà.
Quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng do ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 không có mặt theo thông báo của Tòa án nên phiên hòa giải không tiến hành được, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý, trong quá trình giải quyết vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; quyền và nghĩa vụ của các đương sự đã được đảm bảo; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ các Điều 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 117, 280, 292, 299, 317, 318, 320, 321, 323, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 13 Nghị quyết 01/2019/HĐ ngày 01-11-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O): Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-08-2022; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số: 0030/2022/SĐBS-HDTD ngày 27-8-2022 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (O) với ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 tạm tính đến ngày 30-5-2025 là 1.754.546.147 đồng, bao gồm nợ gốc: 1.430.000.000 đồng; lãi trong hạn: 254.543.551 đồng; lãi quá hạn: 51.624.616 đồng; lãi chậm trả: 18.377.980 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 31-5-2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
Trường hợp ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-8-2022 để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB) số tiền còn nợ đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 đã ký kết.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (O) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là: 64.636.384 đồng.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng O) ký Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-08-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 với bên vay là ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3, mục đích vay mua bất động sản. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà T3 có nghĩa vụ thực hiện trả tiền gốc và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn – ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 cư trú tại Tổ dân phố P, phường H (phường N cũ), thành phố Y, tỉnh Yên Bái nên theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Tại phiên tòa, những người được ủy quyền lại tham gia tố tụng của Ngân hàng O gồm: ông Trần Văn T2 và ông Lê Đình N vắng mặt; ông Phan Lạc M có mặt. Theo nội dung ủy quyền tại Giấy ủy quyền số 2401/2025/UQ-OCB ngày 24/01/2025 thì sự vắng mặt của ông T2 và ông N không gây trở ngại cho việc xét xử. Ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn H1, ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị N1 đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T2, ông N, bị đơn và những người có quyền lợi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 được ký kết giữa Ngân hàng O và ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3: Khi ký kết hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực đối với các bên về quyền và nghĩa vụ, các bên phải có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận đã cam kết.
[2.2] Về yêu cầu đòi nợ gốc: Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng O đã thực hiện việc giải ngân số tiền là 1.500.000.000 đồng cho ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3. Sau khi vay, ông H và bà T3 đã trả được 70.000.000 đồng tiền gốc. Từ ngày 10-11-2023, ông H và bà T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ và các cam kết đã ký kết với Ngân hàng O. Căn cứ Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng. Do đó, việc Ngân hàng O khởi kiện ông H và bà T3 là có căn cứ, được chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả khoản nợ lãi tại Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 tạm tính đến ngày 30-5-2025, gồm lãi trong hạn: 254.543.551 đồng; lãi quá hạn: 51.624.616 đồng; lãi chậm trả: 18.377.980 đồng, thấy rằng:
Tại Điều 1 và Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Điều 1 của Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 các bên có thỏa thuận về mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi chậm trả và mức điều chỉnh lãi suất. Xét các mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 01/2019/HĐ ngày 01-11-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả các khoản tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký là có căn cứ nên được chấp nhận.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng O xuất trình theo Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 thì tính đến ngày 30-5-2025, ông H và bà T3 còn phải trả các khoản lãi gồm: lãi trong hạn: 254.543.551 đồng; lãi quá hạn: 51.624.616 đồng; lãi chậm trả: 18.377.980 đồng. Tổng số tiền lãi là: 324.546.147 đồng.
[2.4] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản tiền vay, ngày 27-8-2022, ông H và bà T3 đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477, số vào sổ cấp GCN: CH1401 do UBND huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-4-2013 mang tên ông Hoàng Văn H1, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3 theo mã số hồ sơ số 222200.CN4468; thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; địa chỉ thửa đất: Thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội; diện tích: 255,7m²; hình thức sử dụng: Riêng 255,7m²; mục đích sử dụng: Đất ở; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất. Tài sản gắn liền với đất là: 03 gian nhà cấp 4.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-8-2022 được giao kết bởi các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ký kết trên cơ sở tự nguyện, lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội và đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật nên đã có hiệu lực pháp luật tại thời điểm được cấp văn bản chứng nhận. Tại điểm b khoản 4 Điều 7 của Hợp đồng thế chấp trên đã xác định tài sản thế chấp là thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp, không có bất kỳ sự tranh chấp nào. Theo điểm c khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp trên có quy định bên thế chấp vi phạm bất kỳ thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng O có quyền xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật để thu hồi nợ. Sự thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định tại Điều 299; Điều 317; Điều 318; Điều 320; Điều 321; Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 và đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên có cơ sở chấp nhận.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng OCB.
[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn H1, ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị N1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng theo thông báo của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội và không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn là: 36.000.000 đồng + (3% x 954.546.147 đồng) = 64.636.384 đồng.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 117, 280, 292, 299, 317, 318, 320, 321, 323, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 167; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/HĐ ngày 01-11-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P:
1.1. Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền còn nợ Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 tính đến ngày 30-5-2025 là: 1.754.546.147 đồng (một tỷ bảy trăm lăm mươi tư triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó:
Nợ gốc: 1.430.000.000 đồng; lãi trong hạn: 254.543.551 đồng; lãi quá hạn: 51.624.616 đồng; lãi chậm trả: 18.377.980 đồng.
Kể từ ngày 31-5-2025 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P theo quyết định của Tòa án, cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
1.2. Trường hợp ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 3417/HĐTC, quyển số 03/2022, TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27-8-2022 để thu hồi nợ là:
- - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 76; tờ bản đồ số 04; diện tích: 255,7 m²; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 749477, số vào sổ cấp GCN: CH 1401 do Ủy ban nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 05-04-2013 đứng tên ông Hoàng Văn H1. Ngày 22-08-2022, Văn phòng Đ1 - Chi nhánh huyện Q xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc H và vợ là bà Phan Thị T3 theo mã hồ sơ số 222200.CN4468.
- - Vị trí thửa đất: Phía Bắc giáp thửa 68 T12 ông Hoàng Duy L; phía nam giáp thửa 77 T12 ông Hoàng Văn K; phía Đông giáp thửa 78 T12 ông Hoàng Đăng Đ; phía Tây giáp đường giao thông + T65 + T75. Diện tích thửa đất 255,7m² đất ở lâu dài.
- - Công trình xây dựng trên đất gồm: 01 nhà ở cấp 4 đã cũ kết cấu bằng tre gỗ lợp mái ngói, xây dựng năm 1969 không có cải tạo sửa chữa lớn. Diện tích nhà 45m²; 01 gian nhà bếp + công trình đã cũ khung tre lợp ngói xây dựng năm 1969, không có cải tạo lớn, diện tích 30m².
1.3. Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P số tiền còn nợ đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 đã ký kết.
2. Về án phí:
Ngân hàng Thương mại cổ phần P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.716.000 đồng (hai mươi bảy triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2024/0001468 ngày 29-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái.
Ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 64.636.384 đồng, làm tròn 64.636.000 đồng (sáu mươi tư triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo:
- - Ngân hàng Thương mại cổ phần P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Ông Nguyễn Ngọc H, bà Phan Thị T3, ông Hoàng Văn H1, ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị N1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Kim Anh |
Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P: 1.1. Buộc ông Nguyễn Ngọc H và bà Phan Thị T3 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P tổng số tiền còn nợ Hợp đồng tín dụng số 0030/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 19-8-2022 và Khế ước nhận nợ- Khách hàng cá nhân số: 0030.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 08-9-2022 tính đến ngày 30-5-2025 là: 1.754.546.147 đồng (một tỷ bảy trăm lăm mươi tư triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.430.000.000 đồng; lãi trong hạn: 254.543.551 đồng; lãi quá hạn: 51.624.616 đồng; lãi chậm trả: 18.377.980 đồng.
