Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HSPT

Ngày: 23 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Hà

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Trường và bà Nguyễn Thị Minh Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thuỷ – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Đinh Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLPT – HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2024/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Xuân T (tên gọi khác Nguyễn Văn T1), sinh năm 1984; HKTT: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân N, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 17/HSST ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 20/10/2022 chấp hành xong hình phạt và đã chấp hành xong án phí.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Nguyễn Hữu B – Cán bộ tin học Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

2. Cán bộ tin học Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 08/10/2023, tại đường N thuộc địa phận phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe môtô BKS 99L4 - 4837 do Nguyễn Xuân T điều khiển theo hướng khu Q, phường K đi khu T, phường K va chạm với xe mô tô BKS: 99Z2 – 2712 do bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962; HKTT: Khu Q, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đi theo hướng ngược lại. Hậu quả: Bà T2 bị thương được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đen, BKS: 99L4 - 4837; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB025344201; chiếc xe mô tô Honda Wave màu đỏ BKS: 99Z2- 2712; 01 đĩa DVD màu vàng bên trong lưu giữ đoạn video ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông ngày 08/10/2023, tại đường N, thuộc địa phận phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

* Khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại đường N, thuộc địa phận phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Đoạn đường này là đường hai chiều được phân chia bằng vạch kẻ sơn nét đứt màu vàng, đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, có chiều rộng 10,5m, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng. Lấy mép đường bên phải trên đường N hướng từ Kênh N đi khu Q, phường K làm chuẩn. Chọn cột điện số (1.2).4 TBA Khắc Niệm 7 gần mép đường bên trái đường N hướng từ Kênh N đến khu Q, phường K làm mốc.

Vị trí xe mô tô BKS: 99L4- 4837: Nằm đổ sang bên phải trên đường N, chiều đường từ khu Q đi Kênh N. Đầu xe hướng về Kênh N, đuôi xe hướng về khu Q. Trục trước xe mô tô cách mép đường làm chuẩn là 5,9m và cách vị trí điểm mốc là 0,9m. Trục sau xe mô tô cách mép đường làm chuẩn là 6,4m.

Vị trí xe mô tô BKS: 99Z2 - 2712: Nằm đổ nghiêng bên phải trên đường N, chiều đường từ Kênh N đi khu Q. Đầu xe hướng vào mép đường bên trái đường N hướng từ Kênh N đi khu Q, đuôi xe hướng về mép đường làm chuẩn. Trục trước xe mô tô cách mép đường làm chuẩn là 4,9m, trục sau xe mô tô cách mép đường làm chuẩn là 3,7m.

Vị trí vết tạp chất màu đỏ nâu có kích thước (0,5x0,3)m cách mép đường làm chuẩn là 7,85m và cách vị trí trục sau xe mô tô BKS: 99L4- 4837 là 0,6m.

Vị trí vết cày có kích thước (0,9x0,1)m có độ sâu so với mặt đường là 0,002m. Điểm đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn là 5,45m và cách trục sau xe mô tô BKS: 99L4- 4837 là 1,6m, điểm cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn là 5,8m.

Vị trí vết mài trượt màu đen có kích thước (0,7 x 0,2)m. Điểm đầu dấu vết này cách mép đường làm chuẩn là 4,95m, cách vị trí điểm đầu vết cày có kích thước (0,9x0,1) là 0,4m. Vị trí điểm cuối dấu vết này cách mép đường làm chuẩn là 5,15m.

Vị trí vết tạp chất màu đỏ nâu có kích thước (0,8 x 0,35)m. Đo từ tâm vị trí này đến mép đường làm chuẩn là 3,8m, cách vị trí trục sau xe mô tô BKS: 99Z2- 2712 là 2,1m.

Vị trí vết cày kích thước (0,23x0,01): Dựng xe mô tô BKS: 99Z2- 2712 lên thấy xuất hiện vết cày này có độ sâu so với mặt đường là 0,003m. Đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn là 4,4m, điểm cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn là 4,27m, chiều hướng từ vạch kẻ sơn giữa đường đến mép đường làm chuẩn kết thúc tại bàn để chân phía trước bên phải.

Vị trí vết cày có kích thước (1,3x0,01)m, chiều hướng từ khu Q đến kênh N, điểm cuối vết cày kết thúc tại mặt ngoài kim loại tay phanh bên phải xe mô tô BKS: 99L4- 4837. Điểm đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn là 6,1m, điểm cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn là 6,7m, điểm đầu vết cày tương ứng với vị trí trục sau xe mô tô BKS: 99L4- 4837.

* Khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đen, BKS: 99L4- 4837 xác định: Mặt trước giảm xóc bên trái bánh trước cách mặt đất 30cm có vết mài mòn chà xước, kích thước (7x1)cm; Vỡ mất mảnh cánh yếm bên trái; M ngoài mép trái mặt nạ, cách mặt đất 80cm và cách mép trước 15cm có vết trượt kích thước (6x22)cm. Khuyết gương chiếu hậu hai bên; Vỡ mất mảnh ốp nhựa phía dưới sàn để chân trước bên trái trên diện (40x11)cm. Đầu tay phanh bên phải, đầu tay lái bên phải có vết mài trượt kích thước lần lượt là (1,5x1)cm và (3x1)cm; Nứt, vỡ chắn bùn bánh trước. Mặt ngoài cánh yếm bên phải rải rác có các vết trượt xước, vỡ trên diện (58x20)cm.

* Khám nghiệm phương tiện xe mô tô Honda Wave màu đỏ BKS: 99Z2- 2712 xác định: Khoá càng gắn trên giảm xóc bên trái bánh trước bị xoay theo chiều từ phải sang trái, xô lệch theo chiều từ dưới lên trên; mặt trước và mặt dưới vỏ nhĩ của khoá càng này cách mặt đất 37cm có vết trượt xước, biến dạng kích thước (0,7x1,5)cm; mặt trước đầu then chốt của khoá càng này cách mặt đất 40cm có vết xước kích thước (2,5x0,7)cm; Vỡ mất mảnh ốp nhựa phía trước đầu xe, vỡ một phần ốp đèn pha, vỡ mất mảnh gương chiếu hậu hai bên; Chân gương chiếu hậu bên trái bị cong theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau, mặt trước của chân gương chiếu hậu này có vết trượt bám chất dạng mảng màu đen; Vỡ mất

mảnh một phần bên trái mặt nạ và toàn bộ cánh yếm bên trái; C cần đạp số tiến theo chiều từ trước về sau, cong bàn để chân phía trước bên trái theo chiều từ trước về sau; Phía sau xe có gắn 01 giá chở hàng bằng kim loại, mỗi bên thò ra 30cm và đều gắn 01 giỏ nhựa; Vỡ mặt dưới và mặt ngoài giỏ nhựa bên trái trên diện (45x21)cm, mặt trước thanh kim loại bên trái của giá chở hàng có vết trượt kích thước.

* Khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị T2 xác định:

- Khám ngoài: Vùng đỉnh chẩm phải cách sát đường giữa trên đường chân tóc gáy 7cm có diện rách da đã được khâu kích thước (6,5x7)cm, bề mặt khô và bong vảy đã khô; Vùng vành tai phải có vết sây sát da kích thước (2x0,5)cm, bề mặt đã khô và đóng vảy. Hai mắt nhắm, niêm mạc nhợt nhạt, hai nhãn cầu không có vết tổn thương; Vùng cổ trước cách trên hõm ức 2cm có lỗ mở khí quản đường kính 1,5cm; Vùng ngực, bụng chướng nhẹ và có nhiều chấm xuất huyết dưới da; Mặt sau nửa dưới cẳng tay trái đến mu bàn tay có nhiều vết sây sát da bầm tụ máu trên diện (15x7)cm. Các vết sây sát da đã khô và đóng vảy.

- Khám trong: Giải phẫu vùng đầu thấy vùng căn cơ thái dương bên trái có chấm biến đổi màu đỏ tím kích thước (5x3)cm. Xuất huyết nhẹ dưới màng cứng vùng chẩm bên trái diện (12x5)cm. Tổ chức nhu mô não phù, xuất huyết dưới màng cứng vùng chẩm bên phải ngay trên sườn ổ mắt phải kích thước (4x4)cm. Vùng thuỳ trán bên phải, bên trái có vết xuất huyết nhu mô kích thước (0,5x0,2)cm. Vùng thuỳ thái dương bên trái có rải rác các ổ chảy máu không liên tục trên diện (8x6)cm, xung quanh các ổ chảy máu hoại tử, xuất huyết nhu mô tiểu não phải kích thước (2x1,5)cm; Giải phẫu vùng ngực, bụng thấy khoang lồng ngực hai bên có chứa ít dịch màu vàng nâu. Bề mặt phổi có nhiều mảng xuất huyết, mặt cắt phổi có nhiều dịch màu nâu đỏ.

Tại bản Kết luận giám định pháp y số tử thi số 260/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T2 do viêm phổi, suy đa tạng trên người đa chấn thương có hôn mê lâu ngày. Không đủ cơ sở kết luận cơ chế hình thành thương tích gây nên tử vong của bà Nguyễn Thị T2”.

Tại bản Kết luận giám định số 2156/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa, biên tập nội dung trong file video 4056350391173328795.mp4 dung lượng 36.3 MB, mã MD5: fb71ed798fe9b9d74bd18a87ea19caf4 lưu trữ trong đĩa cứng dạng CD ký hiệu DVD-R 4.7GB16X gửi giám định và - Không đủ cơ sở kết luận vận tốc của xe mô tô BKS: 99L4- 4837 và xe mô tô BKS: 99Z2- 2712 trước và khi xảy ra tai nạn giao thông”

Tại bản Kết luận giám định số 2241/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết trượt xước tại mặt trước khoá càng trên giảm xóc bên trái bánh trước xe mô tô BKS: 99Z2- 2712 có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái khoá càng, phù hợp với dấu vết trượt xước tại mặt trước giảm xóc

bên trái bánh trước trên xe mô tô BKS: 99L4- 4837. Dấu vết va chạm trên xe mô tô BKS: 99L4- 4837 tại vị trí này có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái giảm xóc. Vị trí này là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện; Dấu vết xước tại đầu tay lái bên phải, đầu tay phanh bên phải, mặt ngoài bên phải ốp nhựa trước sàn để chân, tại gần bàn để chân sau bên phải trên xe mô tô BKS: 99L4- 4837 có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe mô tô này đã đổ nằm bên phải và trượt trên mặt đường. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên hiện trường là trên mặt đường N, phần đường chiều đi từ Kênh N đến khu Q, nằm trong vùng từ vị trí cách mép đường chuẩn 4,5m đến vạch kẻ giữa đường, từ trục trước xe mô tô BKS: 99Z2- 2712 đến điểm cuối dấu vết trượt 6,83m”

Tại Bản kết luận giám định độc chất số: 683/899/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 05/12/2023 của V kết luận: Máu phủ tạng: Không tìm thấy các chất độc thông thường. Máu mẫu: Không tìm thấy các chất độc thông thường, không tìm thấy E.

Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số: 170/23/KLMBH-PYQG ngày 14/12/2023 của V kết luận: Màng não cứng: Xoang mạch chứa đầy hồng cầu đông vón. Não: Ổ tụ máu lan toả trong nhu mô não, nhu mô não thoái hoá, phù. Màng não phủ, sung huyết. Tim: Phù, đông mạch vành lắng đọng cholesterol, mô kẽ tăng sinh xơ, mỡ, xâm nhập viêm rải rác. Phổi: Viêm phế quản phổi, phổi đông đặc. Gan: Cấu trúc bình thường, lòng mạch chứa ít hồng cầu. Thận: Phù, sung huyết, mô kẽ đài bể thận ngấm ít hồng cầu. Lách: Lòng mạch chứa ít hồng cầu.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 400/KL-ĐGTSTTHS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Giá trị thiệt hại đối với những bộ phận bị hư hỏng trên xe mô tô BKS: 99Z2-2712 là 640.000 đồng.

Ngay sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan CSĐT đã tiến hành đo nồng độ cồn đối với Nguyễn Xuân T xác định trong hơi thở của T có nồng độ cồn là 1,103 mg/1 khí thở và tiến hành kiểm tra chất ma túy trong mẫu nước tiểu của T xác định không sử dụng chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận: Bị cáo có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 27/8/2003 nhưng quá trình sử dụng đã thất lạc. Trưa ngày 08/10/2023, T ăn uống tiếp khách tại nhà và có sử dụng rượu. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô BKS 99L4- 4837 từ nhà ở thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đến nhà bạn ở khu T, phường K, thành phố B chơi và điều khiển xe mô tô đi theo đường N, phường K hướng từ khu Q, phường K về ngã tư Chờ T, phường K. Khi T điều khiển xe đi đến đoạn cột điện ký hiệu (1.2).4TBA Khắc Niệm 7 trên đường N, lúc này bà T2 cũng điều khiển xe mô tô BKS 99Z2 - 2712 di chuyển theo chiều ngược lại từ Kênh N đi khu Q. Bà T2 điều khiển xe đi ở phần đường bên phải theo hướng đi của bà. Do đã sử dụng rượu, không chú ý quan sát và không làm chủ được tay lái nên T đã đi chuyển xe mô tô đi sang phần đường ngược chiều, đâm vào bên trái đầu xe mô tô

của bà T2. Cả hai bị ngã văng theo xe, được đưa đi cấp cứu. Đến ngày 21/11/2023 bà T tử vong. T điều trị thương tích đến ngày 12/10/2023 thì ra viện.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2024/HSST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố Nguyễn Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Xuân T 60 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2024.

Ngoài ra bản án có tuyên xử về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/8/2024, bị cáo T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đã thực hiện hành vi điều kiển xe mô tô khi đã sử dụng rượu, không chú ý quan sát, không làm chủ được tay lái đi sang phần đường không đúng quy định gây hậu quả đâm phải xe mô tô do bà Nguyễn Thị T2 điều khiển, hậu quả làm bà T2 tử vong. Bị cáo có tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại nhưng vì bị giam nên bị cáo không biết đã bồi thường chưa.

do điều kiện kinh tế khó khăn nên mẹ bị cáo bồi thường cho bị hại 10.000.000đ, gia đình bị hại trả lại thì nộp tại Chi cục thi hành án.

Bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ bị cáo T trình bày do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà thu xếp được 10.000.000₫ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh là tiền bồi thường cho gia đình bị hại. Gia đình cũng đã mang 10.000.000₫ đến viếng tại lễ tang của bà T2. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bà không có ý kiến gì đối với số tiền nộp thay bị cáo T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm 06 tháng tù cho bị cáo T.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Xuân T có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, các vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 08/10/2023, Nguyễn Xuân T đã sử dụng rượu nhưng vẫn điều khiển xe mô tô BKS: 99L4 - 4837 trên đường N để đi về hướng Kênh N thuộc phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi đi đến đoạn cột điện ký hiệu (1.2).4TBA Khắc Niệm 7 trên đường N do không chú ý quan sát và không làm chủ được tay lái nên đã điều khiển xe mô tô di chuyển sang phần đường ngược chiều dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS: 99Z2 – 2712 do bà Nguyễn Thị T2 điều khiển làm 2 xe mô tô đổ ra đường, bà T2 và T ngã văng theo xe. Hậu quả: Bà T2 bị thương tích nặng đến ngày 21/11/2023 thì tử vong. Do vậy, bản án sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 206 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án, chưa khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Bản án sơ thẩm đã xét xét đầy đủ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 60 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 206 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị L xuất trình phiếu thu 10.000.000đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh để bồi thường cho gia đình bị hại. Xét thấy bị cáo và gia đình kinh tế khó khăn nhưng có ý thức khắc phục hậu quả nên bị cáo được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại điện Viện kiểm sát. ác nhận bị cáo đã nộp 10.000.000₫ để bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Xuân T 54 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2024.

Áp dụng Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Tạm giữ số tiền 10.000.000đ tại Biên lai thu tiền số 0000661 ngày 16/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn để bảo đảm việc thi hành án.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT; VKSND; TAND TP. Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSPT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 57/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: i phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger