|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 699/2025/HS-PT
Ngày 31 tháng 12 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Ông Phan Tô Ngọc |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Vĩnh T. Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2025/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
* Bị cáo kháng cáo/có liên quan đến kháng cáo:
Bùi Vĩnh T, sinh năm 1985 tại Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là xã L, tỉnh Đồng Nai); Chỗ ở hiện nay: như trên; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đình S, đã chết và bà Đặng Thị H, sinh năm 1963; gia đình bị cáo có 5 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ 1: Trần Thị Kiều O, sinh năm 1988 (đã ly hôn ngày 04/7/2020), có 01 con sinh năm 2019 và vợ 2: Lê Thị Yến N, sinh năm 1990 (ly hôn năm 2022), có 02 con lớn sinh năm 2019 và nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/4/2023 – Hiện bị cáo đang bị tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Bích thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Bị hại có kháng cáo:
- Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thanh H1: Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: A, P, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Bà Nguyễn Thái Thùy V, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số A ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin xét xử vắng mặt). - Ông Phạm Văn D, sinh năm 1970
Địa chỉ: Tổ C, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Nguyễn Văn X thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
- Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số B ấp B, xã G, T, Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai).
- Ông Vũ Cao S1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai).
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1974; Địa chỉ: số D, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai).
Đại diện theo ủy quyền của bà N1, ông S1, ông T3: ông Trần Chí N2, bà Nguyễn Thanh T4; cùng địa chỉ: C T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (ông N2 có mặt; bà T4 có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N1, ông S1, ông T5: ông Lê Văn N3, bà Đỗ Thị H2 đều thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Ông Nguyễn Dư L, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp E, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai)
Đại diện theo ủy quyền của ông L: ông Lương Hồng V1, địa chỉ: ấp B, xã A, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Ngân hàng TMCP P1 chi nhánh Đ3 (OCB); Địa chỉ: K, KP G, đường V, Phường T, Thành phố B, Tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) (vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP T19(P2) – chi nhánh Đ3 (tên cũ là Ngân Hàng TMCP X2); Địa chỉ: 4 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai)
* Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh H3; Địa chỉ: Số D, N, Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bà Hồ Thị T6, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ G, Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai)
Người đại diện theo ủy quyền của bà T6: ông Nguyễn Trọng T7; địa chỉ: 2 khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, Khu phố B, T, phường H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai) (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988; Địa chỉ: X, H, V, Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh) (vắng mặt).
- Ông Vũ Hữu H5, sinh năm 1975; Địa chỉ: G, Tổ A, Khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H5: ông Nguyễn Trọng T7; địa chỉ: 2 khu phố B, phường T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Ông Lê Mạnh H6, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số Đ, Đường Đ, Khu dân cư H, Tổ H, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Ông Trần Thanh T8, sinh năm 1984; Địa chỉ thường trú: Số H, khu phố G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, thành phố Hồ Chí Minh); Địa chỉ liên lạc: D3, số F, ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Đ, tỉnh Đồng Nai) (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Trần Minh C (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H (H12); Địa chỉ: B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Lăng T9, sinh năm 1988 và bà Tạ Thị Ngọc N4; Địa chỉ: B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường S, thành phố Hồ Chí Minh)
* Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Công ty TNHH Đ4. Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Hoàng T10 chức vụ: Phó Giám đốc
- Ông Lê Quyết T11, sinh năm 1998; Địa chỉ: A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, (nay là phường S, thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Ông Nguyễn Thế S2, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số A, N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án). - Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1949; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã N, tỉnh Đồng Nai) - Vắng mặt.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: bà Vũ Thị O1, sinh năm 1957; Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã N, tỉnh Đồng Nai) (vắng mặt).
- Ông Bùi Minh S3, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Phương L1, sinh năm 1975; Địa chỉ: A tổ B, khu phố M, phường P, B, Đồng Nai (nay là phường P, tỉnh Đồng Nai) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, từ năm 2017 đến năm 2020, Bùi Vĩnh T đã thành lập các Công ty cổ phần Đ4, Công ty cổ phần Đ5, Công ty cổ phần T20 với danh nghĩa là Giám đốc công ty, Bùi Vĩnh T đã tiến hành mua lại các thửa đất trồng cây lâu năm tại phường T, thành phố B; xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, T thuê đơn vị thi công đường nhựa, phân ra nhiều nền có diện tích từ 100 m2, tự lập các dự án trên các khu đất này khi chưa được cơ quan nhà nước cho phép rồi chỉ đạo nhân viên quảng cáo, rao bán dự án đất nền, cam kết đất ở và sổ riêng từng nền, bằng thủ đoạn trên, Bùi Vĩnh T đã thành lập 04 dự án và thu tiền của nhiều người bị hại rồi chiếm đoạt, cụ thể như sau:
1. Hành vi gian dối tự vẽ ra dự án “Khu dân cư Cát T12” trên đất nông nghiệp (trồng cây lâu năm) tại thửa đất 49 tờ bản đồ 15 xã T, thành phố B, đất chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở, chưa được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập dự án Khu dân cư, sau đó chuyển nhượng cho các bị hại để chiếm đoạt tài sản.
Ngày 24/4/2017, Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu cho Công ty cổ phần Đ4 (viết tắt: Công ty Đ4), có trụ sở tại địa chỉ: A khu E, ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai do Bùi Vĩnh T là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty là người đại điện theo pháp luật; thành viên góp vốn và tỷ lệ góp vốn gồm: T góp 33,34%, Trần Thị Kiều O, sinh năm 1988, thường trú: 26A tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, Đồng Nai góp 33,33% và Đặng Minh Đ1, sinh ngày 05/11/1990, HKTT: ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai góp 33,33%.
Khi thành lập công ty, Đoàn góp 01 tỷ đồng, đến khoảng 04 tháng sau thì Đ1 rút vốn khỏi công ty và không tham gia hoạt động. Tuy nhiên, T không thông báo với Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đ về thay đổi thành viên góp vốn của Công ty. Đến tháng 11/2017, T đăng ký tăng vốn điều lệ Công ty lên 200 tỷ đồng nhằm khuyếch trương năng lực tài chính để tạo niềm tin cho các khách hàng, thuận lợi cho việc kinh doanh bất động sản, tạo uy tín là công ty có vốn điều lệ cao, để vay vốn ngân hàng được dễ dàng, thuận lợi hơn, số tiền vay cũng được nhiều hơn và để tạo “vỏ bọc” là Công ty có vốn đầu tư lớn. Trên thực tế, T không có số tiền trên để góp vào Công ty.
Dự án này không được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép. Tuy nhiên, T đã chỉ đạo và thông báo với nhân viên của Công ty Đ4 là dự án đang thực hiện chuyển mục đích sử dụng sang đất ở tách thành từng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng có diện tích khoảng 100m2 để bán cho khách hàng. Sơ đồ phân lô các nền đất do T nhận lại từ chủ đất là ông Nguyễn Dư L, sinh năm 1972, thường trú: ấp E, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai, sau đó T đã điều chỉnh lại và giao sơ đồ phân lô cho nhân viên để rao bán cho khách hàng.
Bằng thủ đoạn này, T đã lợi dụng chức danh Giám đốc Công ty Đ4 ký các hợp đồng, thu tiền của khách hàng nhưng không sử dụng để làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng sang đất ở, tách thửa như đã cam kết mà T đã sử dụng vào mục đích cá nhân, trả tiền cho nhân viên, đặt cọc và mua một số thửa đất khác để phân lô nền và tiếp tục tự thành lập Dự án khu dân cư khác, rao bán cho khách hàng, thu tiền, trong đó có dự án Dragon City tại một số thửa đất thuộc tờ bản đồ 87 xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đến ngày 24/12/2018, T sử dụng tiền của khách hàng ký hợp đồng với Công ty Đ4 để mua lại thửa đất số 49 tờ bản đồ số 15 nêu trên của ông Nguyễn Dư L và để cho vợ là Trần Thị Kiều O đứng tên quyền sử dụng đất. Đến ngày 17/6/2020, Trần Thị Kiều O làm hợp đồng tặng cho thửa đất trên cho T. Sau khi sang tên quyền sử dụng đất, đồng thời do cần tiền để trả lại cho một số khách hàng và để sử dụng cá nhân, T đã vay của ông Tạ Văn H7, sinh năm 1964, địa chỉ: 1, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai số tiền 10 tỷ đồng. Để đảm bảo cho việc trả tiền vay, T đã ký hợp đồng chuyển nhượng, sang tên quyền sử dụng các thửa đất này cho ông H7. Sau đó, T tiếp tục vay của ông Nguyễn Thế S2, sinh năm 1977, địa chỉ: A N, phường B, quận B, Tp . số tiền 18 tỷ đồng, trả cho ông H7 10 tỷ đồng và ký hợp đồng chuyển nhượng từ ông H7 sang tên cho ông S2. Hiện nay, thửa đất trên đang do ông Nguyễn Thế S2 đứng tên quyền sử dụng và đã thế chấp vay ngân hàng.
Bằng thủ đoạn tự lập dự án, tự phân lô nền trái phép trên đất nông nghiệp thuộc thửa đất 49 tờ bản đồ 15, phường T, thành phố B, từ tháng 04/2017 đến tháng 10/2021, Công ty Đ4 do T làm Giám đốc đã ký hợp đồng, thu tiền của khách hàng trong đó có 46 bị hại làm đơn tố cáo gửi cơ quan điều tra, T đã thu số tiền 45.533.230.000 đồng, trả lại 6.802.195.000 đồng, còn lại số tiền 38.731.035.000 đồng, T chiếm đoạt chưa trả, cụ thể:
Bảng 1: Danh sách 46 bị hại:
| STT | Họ và tên | Ngày ký hợp đồng | Lô | Thanh toán | Nhận lại | Bị chiếm đoạt |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Phạm Thị Nhường | 14/8/2017 | B08 | 514,500,000 | 0 | 514,500,000 |
| 2 | Nguyễn Ngọc Thi | 21/9/2017 | A18,A19 | 1,003,600,000 | 219,000,000 | 784,600,000 |
| 3 | Nguyễn Minh Quang | 15/12/2017 | B03 | 665,000,000 | 0 | 665,000,000 |
| 4 | Mai Hoàng Phong | 11/4/2017 | A22,23 | 642,000,000 | 642,000,000 | 0 |
| 5 | Nguyễn Thái Thuỳ Vy | 11/9/2017 | A24,A29 | 638,400,000 | 371,520,000 | 266,880,000 |
| 6 | Nguyễn Thị Mỹ Đào | 29/11/2017 | 780,000,000 | 203,175,000 | 576,825,000 | |
| 7 | Trần Đình Chi Nguyên | 31/8/2018 | D6 | 950,000,000 | 300,000,000 | 650,000,000 |
| 8 | Nguyễn Xuân Lam | 25/3/2019 | 700,000,000 | 0 | 700,000,000 | |
| 9 | Trần Ái Phương | 9/10/2018 | A29,A30 | 1,900,000,000 | 400,000,000 | 1,500,000,000 |
| 10 | Huỳnh Tịnh Huệ | 17/9/2018 | 5 lô | 4,750,000,000 | 1,000,000,000 | 3,750,000,000 |
| 11 | Phạm Thị Hoàng Oanh | 17/9/2018 | B15 | 950,000,000 | 0 | 950,000,000 |
| 12 | Trần Lê Hiếu | 15/8/2020 | D15 | 525,310,000 | 0 | 525,310,000 |
| 13 | Lại Thị Lụa | 21/01/2019 | B09 | 262,000,000 | 0 | 262,000,000 |
| 14 | Trần Thị Lành | 21/01/2019 | B05 | 650,000,000 | 0 | 650,000,000 |
| 15 | Nguyễn Thị Lý | 20/11/2017 | D52 | 741,000,000 | 0 | 741,000,000 |
| 16 | Cao Xuân Bình - Trần Thị Thanh Huyền | 30/7/2017 | D12, Y31 | 634,250,000 | 0 | 634,250,000 |
| 17 | Nguyễn Thị Lạc | 27/11/2017 | 538,000,000 | 0 | 538,000,000 | |
| 18 | Nguyễn Thị Dung | 7/3/2020 | 638,700,000 | 0 | 638,700,000 | |
| 19 | Nguyễn Thị Thanh | 7/3/2020 | 638,700,000 | 0 | 638,700,000 | |
| 20 | Lê Thị Hoa | 28/7/2020 | 500,000,000 | 0 | 500,000,000 | |
| 21 | Nguyễn Thị Thanh Lan | 9/10/2018 | 1,643,750,000 | 0 | 1,643,750,000 | |
| 22 | Nguyễn Quang Hợi | 15/8/2017 | A26 | 505,000,000 | 0 | 505,000,000 |
| 23 | Nguyễn Thị Mận | 21/01/2019 | C43, C11 | 1,900,000,000 | 0 | 1,900,000,000 |
| 24 | Nguyễn Ngọc Liễu | 17/9/2018 | B16 | 950,000,000 | 106,400,000 | 843,600,000 |
| 25 | Phạm Trịnh Thuỳ Vân (Phạm Ngọc Minh Hương) | 21/01/2019 | B17,B18 | 1,000,000,000 | 200,000,000 | 800,000,000 |
| 26 | Voòng Đô Phú | 25/9/2018 | C41 | 700,000,000 | 200,000,000 | 500,000,000 |
| 27 | Chu Thành Trung | 21/9/2017 | A31,A32 | 317,000,000 | 24,780,000 | 292,220,000 |
| 28 | Nguyễn Thanh Nhẫn | 27/07/2020 | D31 | 650,000,000 | 0 | 650,000,000 |
| 29 | Ngô Quang Minh | 11/1/2018 | 950,000,000 | 60,000,000 | 890,000,000 | |
| 30 | Nguyễn Tấn Kiệt | 19/5/2021 | 698,100,000 | 0 | 698,100,000 | |
| 31 | Dương Đông Hồng Nguyệt | 3/1/2019 | B36 | 950,000,000 | 200,000,000 | 750,000,000 |
| 32 | Nguyễn Tiến Thắng | 17/9/2018 | C18, C19 | 1,900,000,000 | 400,000,000 | 1,500,000,000 |
| 33 | Nguyễn Đức Tuyến | 17/9/2018 | A02 | 2,850,000,000 | 200,000,000 | 2,650,000,000 |
| 34 | Huỳnh Trần Tường Minh | 9/6/2018 | A25 | 950,000,000 | 200,000,000 | 750,000,000 |
| 35 | Nguyễn Viết Đăng Khoa | 21/01/2019 | C38 | 950,000,000 | 0 | 950,000,000 |
| 36 | Phan Ngọc Tiến | 9/10/2018 | 3 lô | 2,850,000,000 | 100,000,000 | 2,750,000,000 |
| 37 | Nguyễn Thị Mỹ Đào (Lê Anh Tuấn) | 29/11/2017 | A01 | 780,000,000 | 268,695,000 | 511,305,000 |
| 38 | Trần Thị Hoàng Hải | 17/9/2018 | D3 | 1,425,000,000 | 125,000,000 | 1,300,000,000 |
| 39 | Nguyễn Thị Thuỷ | 9/10/2018 | D43,44 | 1,900,000,000 | 1,429,800,000 | 470,200,000 |
| 40 | Trần Tiến Khoa | 26/10/2017 | A20 | 250,000,000 | 0 | 250,000,000 |
| 41 | Nguyễn Văn Ngọc | 26/10/2017 | A21 | 250,000,000 | 0 | 250,000,000 |
| 42 | Nguyễn Quốc Huy | 19/8/2017 | 488,400,000 | 42,400,000 | 446,000,000 | |
| 43 | Đỗ Hồng Duyên | 08/11/2017 | B11,B15 | 351,400,000 | 0 | 351,400,000 |
| 44 | Vũ Văn Nhương | 15/8/2017 | A12 | 492,000,000 | 30,000,000 | 462,000,000 |
| 45 | Dương Văn Duẩn | 10/9/2020 | 417,050,000 | 0 | 417,050,000 | |
| 46 | Nguyễn Trung Kiên | 1/11/2017 | 46, 47 | 794,070,000 | 450,000,000 | 344,070,000 |
| Tổng cộng | 45,533,230,000 | 7,172,770,000 | 38,360,460,000 | |||
2. Hành vi gian dối tự vẽ ra dự án “Khu dân cư Dragon City” trên đất nông nghiệp (trồng cây lâu năm) tại thửa đất 198, 199, 200, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 229, 230, 231, 232, 233, 234 tờ bản đồ 87 xã T, thành phố B, đất chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở, chưa được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập dự án Khu dân cư, sau đó chuyển nhượng cho người khác để chiếm đoạt tiền khách hàng, cụ thể như sau:
Ngày 18/01/2018, Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Đ cấp giấy phép đăng ký doanh nghiệp lần đầu cho Công ty cổ phần Đ5, có trụ sở tại địa chỉ: số D, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vốn điều lệ: 200 tỷ đồng; Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thùy L2 – Giám đốc, sinh ngày 29/11/1981, CMND: [...] do Công an tỉnh Đ cấp ngày 17/3/2011, thường trú: ấp L, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tỷ lệ góp vốn 33,3%; 02 thành viên sáng lập còn lại là bà Trần Thị Kiều O (vợ của Bùi Vĩnh T đã ly hôn) tỷ lệ góp vốn 33.4% và bà Hoàng Thị Anh T13, sinh ngày 03/01/1989, thường trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, CMND: [...], do Công an tỉnh Đ cấp ngày 25/6/2003 tỷ lệ góp vốn 33,3%. Bị can T không tham gia hoạt động của công ty.
Ngày 08/3/2019, Công ty Đ6 thay đổi lần thứ 2, lúc này T là người đại diện theo pháp luật kiêm Giám đốc Công ty, đổi tên thành Công ty Cổ phần Đ5.
Ngày 06/12/2019, Công ty Đ6 thay đổi lần thứ 4, đổi tên thành Công ty cổ phần Đ5 (viết tắt: Công ty Đ5), có trụ sở tại địa chỉ : tầng A, tòa nhà S, số A, đường số A, KCN B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vốn điều lệ 200 tỷ đồng và do T là người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc công ty. Thành viên góp vốn không thay đổi và cũng không có thành viên nào góp tiền vào công ty.
Ngày 18/5/2020, Công ty Đ6 thay đổi lần thứ 5 và thay đổi người đại diện theo pháp luật là Trần Thị Kiều O - Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc Công ty. Thành viên góp vốn và tỷ lệ góp vốn không thay đổi. Lúc này T không còn tham gia hoạt động trong công ty.
Ngày 01/10/2020, Công ty Đ6 thay đổi lần thứ 6 và T làm chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Giám đốc Công ty và là người đại diện theo pháp luật. Thành viên góp vốn và tỷ lệ góp vốn không thay đổi; vốn điều lệ không thay đổi và cũng không có cá nhân nào góp vốn vào công ty.
Quá trình hoạt động: Công ty T21 chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh (do T làm đại diện chi nhánh), T giao cho Bùi Thanh X1, sinh năm 1993, địa chỉ: I đường C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Đăng K1, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước mỗi người quản lý 01 chi nhánh và 01 chi nhánh ở B (thời điểm ban đầu do O đứng đầu chi nhánh, sau đó T thay đổi là người đứng đầu chi nhánh).
Sau khi T đứng tên làm Giám đốc Công ty thì mọi hoạt động của Công ty đều do T điều hành; công ty có mở tài khoản nhưng các giao dịch tài chính ngân hàng đều qua số tài khoản cá nhân của T hoặc giao dịch bằng tiền mặt trực tiếp với bị can T hoặc thông qua nhân viên do T thuê, sau đó nhân viên đưa lại tiền mặt hoặc chuyển vào tài khoản cá nhân của T. Trong suốt quá trình T điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty Đ5 thì bà Nguyễn Thùy L2 và bà Hoàng Thị Anh T13 không tham gia điều hành hoạt động công ty, không biết gì về các hoạt động điều hành của liên quan đến pháp nhân công ty và không được hưởng tiền bạc hay bất kỳ lợi ích vật chất gì từ hoạt động của Công ty Đ5.
Kết quả điều tra, xác định: ông Hoàng Văn N5, sinh năm 1968, ngụ tại: C, N, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu các thửa đất số 198, 199, 200, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 229, 230, 231, 232, 233, 234 tờ bản đồ 87 xã T, thành phố B. Do có nhu cầu chuyển nhượng nên ông N5 đã chuyển nhượng các thửa đất trên cho bị can Bùi Vĩnh T, cụ thể:
- Ngày 22/8/2018, ông N5 ký hợp đồng chuyển nhượng cho T 04 thửa đất gồm: thửa 230 (diện tích: 680m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), 232 (diện tích: 730m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), 233 (diện tích: 734m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), 234 (diện tích: 736m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất); tổng diện tích là 2.880m2. Hợp đồng công chứng số 6398, quyển số 08-2018TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/8/2018 lập tại Văn phòng C1; giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 250 triệu đồng.
- Ngày 05/10/2018, ông N5 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 198 tờ bản đồ 87 (diện tích: 600m2, đất trồng cây lâu năm) xã T, thành phố B cho Trần Thị Kiều O theo yêu cầu của T. Hợp đồng công chứng số 7173, quyển số 10-2018TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/10/2018 lập tại Văn phòng C1; giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 50 triệu đồng.
- Ngày 23/10/2018, ông N5 đã ký hợp đồng uỷ quyền 24 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 87 phường T cho T, gồm: thửa 193 (diện tích: 709m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 194 (diện tích: 600m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 195 (diện tích: 600m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 196 (diện tích: 600m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 199 (diện tích: 600m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 200 (diện tích: 858m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 201 (diện tích: 716m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 202 (diện tích: 851m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 203 (diện tích: 810m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 204 (diện tích: 1.112m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 205 (diện tích: 674m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 206 (diện tích: 674m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 207 (diện tích: 674m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 208 (diện tích: 670m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 209 (diện tích: 1.100m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 210 (diện tích: 661m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 211 (diện tích: 632m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 212 (diện tích: 620m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 213 (diện tích: 605m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 218 (diện tích: 721m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), thửa 219 (diện tích: 891m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), thửa 231 (diện tích: 732m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), thửa 229 (diện tích: 660m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), thửa 228 (diện tích: 536m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất).
Theo nội dung hợp đồng uỷ quyền, T được ông N5 ủy quyền tìm kiếm khách hàng, chuyển mục đích sử dụng đất và tách thửa từ những thửa lớn ra từng thửa nhỏ dao động 100m2. Tuy nhiên, trong thời gian được uỷ quyền, T đã ký hợp đồng bán các lô nền thuộc một phần diện tích trong các thửa đất được ông N5 uỷ quyền cho khách hàng, thu tiền rồi chiếm đoạt. Việc T đã tự ý phân lô nền, tự lập dự án, bán và thu tiền của khách hàng thì ông N5 không biết và không có sự bàn bạc, thoả thuận từ trước.
- Ngày 24/10/2019, ông N5 ký hợp đồng chuyển nhượng cho bị can T 14 thửa đất có tổng diện tích 10.272m2 thuộc tờ bản đồ số 87 tại xã T, thành phố B gồm: thửa 199 (diện tích: 600m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 200 (diện tích: 858m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 204 (diện tích: 1112m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 205 (diện tích: 674m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 206 (diện tích: 674m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 207 (diện tích: 674m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 208 (diện tích: 670m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 209 (diện tích: 1100m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 210 (diện tích: 661m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 211 (diện tích: 632m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 212 (diện tích: 620m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 213 (diện tích: 605m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm), thửa 231 (diện tích: 732m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất), thửa 229 (diện tích: 660m2, mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất). Hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 5729, quyển số 10-2019TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 24/10/2019 lập tại Văn phòng C1; giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,8 tỷ đồng.
Sau khi được quyền sử dụng các thửa đất trên, T thuê đơn vị thi công đường nhựa (trên đường bê tông nội bộ đã có sẵn từ trước), trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường để cho khách hàng tin tưởng là dự án được cơ quan nhà nước cấp phép và tăng giá trị thửa đất để ký hợp đồng bán cho khách hàng với giá cao. T tự đặt tên là “Dự án khu dân cư Dragon City”, cam kết đất ở, tách sổ riêng từng nền, cho nhân viên quảng cáo, bán các nền đất. Bằng thủ đoạn này, Công ty Đ5 do T làm Giám đốc đã ký hợp đồng, nhận tiền của khách bán các lô nền đất trong dự án không có thật, thu tiền của khách hàng để trả cho ông Hoàng Văn N5, chi cho các hoạt động của Công ty và sử dụng cho mục đích cá nhân.
Để có tiền trả trước cho một số khách hàng hoặc trả một ít cho khách hàng, vào tháng 10/2019, bị can T đã sang tên quyền sử dụng đất các thửa 198, 205, 206, 207, 208, 210, 229, 230 tờ bản đồ số 87 xã T cho ông Tạ Văn H7 để vay số tiền 07 tỷ đồng. Hai bên thoả thuận khi T trả đủ tiền cho ông H7 thì sẽ làm hợp đồng chuyển nhượng lại quyền sử dụng các thửa đất trên cho T hoặc ký hợp đồng chuyển nhượng cho người khác do T chỉ định.
Ngoài ra, ngày 20/12/2019, T thế chấp các thửa đất sau để vay tiền của Ngân hàng N7 với số tiền 05 tỷ đồng. Số tiền này T khai nhận sử dụng để chi trả cho một số khách hàng đã nhận tiền trước đó và sử dụng vào mục đích cá nhân. Các thửa đất T dùng để thế chấp vay ngân hàng gồm thửa 199, 200, 204, 209, 211, 212, 231 tờ bản đồ số 87 thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bằng cách thức này, trong thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 08/2020, Công ty Đ5 do T làm Giám đốc đã ký hợp đồng, thu tiền của khách hàng trong đó, có 47 bị hại làm đơn tố cáo gửi cơ quan điều tra, bị can T đã thu số tiền 36.546.562.000 đồng, trả lại 6.812.784.000 đồng, còn lại số tiền 29.733.778.000. T chiếm đoạt chưa trả, cụ thể:
Bảng 2: Danh sách 47 bị hại :
| STT | Họ và tên | Ngày ký hợp đồng | Lô nền | Thửa | Thanh toán | Nhận lại | Bị chiếm đoạt | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Nguyễn Thị Bé Thuý | 30/05/2019 | A2-02 | 206 | 566,312,000 | 160,000,000 | 406,312,000 | |
| 2 | Nguyễn Thị Thuỷ | 20/7/2019 | A2-11 | 205 | 535,224,000 | 535,224,000 | 0 | |
| 3 | Nguyễn Thị Nhung | 8/5/2019 | B3-12A | 231 | 623,000,000 | 110,000,000 | 513,000,000 | |
| 4 | Lê Thị Kim Ngân | 5/4/2019 | A2-12A | 204 | 900,000,000 | 400,000,000 | 500,000,000 | |
| 5 | Nguyễn Đạt Mùi | 17/5/2019 | B2-23,B2-24 | 299 | 1,476,000,000 | 1,000,000,000 | 476,000,000 | |
| 6 | Nguyễn Thành Huấn | 18/5/2019 | B2-05 | 199 | 765,000,000 | 0 | 765,000,000 | |
| 7 | Lê Quốc Mỹ | 2019 | B3-09 | 231 | 688,410,000 | 20,000,000 | 668,410,000 | |
| 8 | Đinh Lệnh Hoan Đinh Thị Hợi | 12/8/2020 | A 30-A33 | 15; 228 | 1,220,718,000 | 385,000,000 | 835,718,000 | |
| 9 | Đỗ Văn Tú | 6/12/2019 | E16 | 52/228 | 1,628,000,000 | 180,000,000 | 1,448,000,000 | |
| 10 | Nguyễn Huy Bắc | 5/4/2019 | B2-22 | 229 | 581,000,000 | 150,000,000 | 431,000,000 | |
| 11 | Nguyễn Thị Bích Phượng | 5/11/2019 | B2-27, B3-10 | 231 | 1,557,000,000 | 0 | 1,557,000,000 | |
| 12 | Nguyễn Bình Quang Lợi | 19/7/2019 | A3-06 | 212 | 412,550,000 | 100,000,000 | 312,550,000 | |
| 13 | Võ Hồng Trân | 17/01/2019 | A3-25 | 211 | 361,776,000 | 0 | 361,776,000 | |
| 14 | Trần Ngọc Thuỳ Trinh (Trần Vĩnh Phúc) | 16/4/2019 | B2-10 | 200 | 522,000,000 | 150,000,000 | 372,000,000 | |
| 15 | Trần Thị Ngọc | 1/4/2019 | A1-01 | 203 | 796,662,000 | 600,000,000 | 196,662,000 | |
| 16 | Phùng Thị Ngọc | 26/4/2019 | B2-02,B2-03 | 198 | 1,530,000,000 | 150,000,000 | 1,380,000,000 | |
| 17 | Trần Đình Thành | 30/7/2019 | A2-31 | 208 | 232,000,000 | 50,000,000 | 182,000,000 | |
| 18 | Nguyễn Duy Linh | 18/6/2019 | B3-12 | 231 | 754,200,000 | 165,800,000 | 588,400,000 | |
| 19 | Trần Thị Tuyết Nga | 2/6/2019 | B2-07 | 200 | 794,520,000 | 0 | 794,520,000 | |
| 20 | Trần Thuỷ Nhung | 5/7/2019 | B2-01 | 199 | 782,928,000 | 0 | 782,928,000 | |
| 21 | Nguyễn Thị Xuân Hương | 12/4/2019 | B2-16, B2-15 | 230 | 873,100,000 | 0 | 873,100,000 | |
| 22 | Vũ Tiến Dũng | 1/4/2019 | B2-14 | 230 | 354,900,000 | 15,000,000 | 339,900,000 | |
| 23 | Nguyễn Thị Tuyết Phương | 5/6/2019 | B2-02 | 731,160,000 | 731,160,000 | 0 | ||
| 24 | Nguyễn Đình Lâm | 7/5/2019 | B2-26,B2-29 | 199 | 1,606,320,000 | 350,000,000 | 1,256,320,000 | |
| 25 | Nguyễn Tiến Huệ | 7/5/2019 | B2-25,B2-30 | 200 | 1,606,320,000 | 350,000,000 | 1,256,320,000 | |
| 26 | Lê Thị Nga | 27/7/2018 | 209b | 209 | 560,600,000 | 560,600,000 | 0 | |
| 27 | Phan Hoàng Đạt | 17/9/2019 | B1-18,19 | 196 | 1,714,500,000 | 0 | 1,714,500,000 | |
| 28 | Đặng Như Hoa | 29/8/2019 | A3-01 | 213 | 680,000,000 | 0 | 680,000,000 | |
| 29 | Nguyễn Thị Huệ | 7/5/2019 | A2-12 | 205 | 259,800,000 | 50,000,000 | 209,800,000 | |
| 30 | Nguyễn Thị Kim Vân (Tăng Hiếu Vỹ) | 26/4/2019 | A1-07 | 202 | 658,836,000 | 0 | 658,836,000 | |
| 31 | Nguyễn Xuân Khanh | 4/11/2019 | A2-17 | 204 | 600,000,000 | 200,000,000 | 400,000,000 | |
| 32 | Nguyễn Thị Hiệp | 4/2/2019 | A2-01 | 208 | 720,000,000 | 0 | 720,000,000 | |
| 33 | Nguyễn Đình Cơ | 18/9/2019 | A2-14 | 204 | 616,260,000 | 0 | 616,260,000 | |
| 34 | Nguyễn Thu Trang | 9/4/2019 | B1-21 | 197 | 710,000,000 | 0 | 710,000,000 | |
| 35 | Lê Thị Trinh | 3/6/2019 | B2-31 | 199 | 792,000,000 | 0 | 792,000,000 | |
| 36 | Nguyễn Như Luân | 6/12/2019 | A2-28 | 207 | 689,220,000 | 200,000,000 | 489,220,000 | |
| 37 | Nguyễn Thanh Hùng | 20/6/2019 | A15 | 209 | 900,000,000 | 0 | 900,000,000 | |
| 38 | Nguyễn Quốc Thoại | 3/5/2019 | A3-24 | 211 | 702,000,000 | 50,000,000 | 652,000,000 | |
| 39 | Phạm Thị Ngần | 25/9/2019 | B1-23 | 197 | 505,000,000 | 0 | 505,000,000 | |
| 40 | Nguyễn Thị Huê | 4/6/2019 | B1-22 | 197 | 261,000,000 | 0 | 261,000,000 | |
| 41 | Phùng Thế Linh | 6/7/2019 | A3-21 | 210 | 765,000,000 | 0 | 765,000,000 | |
| 42 | Trần Thị Diệu Hiền | 15/7/2019 | A2-19 | 1 phần 204 | 594,298,000 | 0 | 594,298,000 | |
| 43 | Thiều Thị Nhung | 26/8/2019 | B2-01 | 198 | 285,000,000 | 0 | 285,000,000 | |
| 44 | Hà Thị Thu Thanh | 03/8/2019 | A3-07 | 211 | 545,850,000 | 0 | 545,850,000 | |
| 45 | Huỳnh Ngọc Thông | 4/1/2019 | B2-12A, B2-09 | 200; 203 | 1,020,000,000 | 0 | 1,020,000,000 | |
| 46 | Trần Văn Tròn | 4/2/2019 | B1-20 | 197 | 480,000,000 | 150,000,000 | 330,000,000 | |
| 47 | Phạm Đình Truyền | 20/8/2019 | A2-33 | 208 | 278,800,000 | 0 | 278,800,000 | |
| Tổng cộng | 36.546.562.000 | 6.812.784.000 | 29.733.778.000 | |||||
Sau khi các bị hại đưa tiền cho Bùi Vĩnh T nhưng không thấy T tách thửa giao đất như đã thỏa thuận và cũng không trả lại tiền nên các bị hại đã làm đơn tố cáo Bùi Vĩnh T gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Tại cơ quan điều tra, Bùi Vĩnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Thu giữ đồ vật tài liệu, kê biên tài sản:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Fold2 5G màu hồng, số imei: 354156124009566 của bị can Bùi Vĩnh T sử dụng vào việc phạm tội.
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã có Văn bản số 1038/CSKT-Đ4 ngày 17/01/2022 gửi Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh rà soát và tạm thời không cho giao dịch đối với các thửa đất do Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đứng tên quyền sử dụng đất.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ đang tạm dừng giao dịch các thửa đất theo yêu cầu của Cơ quan điều tra gồm: thửa 213 tờ bản đồ 12 phường A, thành phố B (Lê Thị Yến N và Bùi Vĩnh T đứng tên sử dụng); thửa 312 tờ bản đồ số 7 phường B, thành phố B (Lê Thị Yến N đứng tên sử dụng); thửa 199, 200, 204, 208, 209, 211, 212, 230, 231 tờ bản đồ 87 phường T, thành phố B (Bùi Vĩnh T đứng tên sử dụng); thửa 528, 529 tờ bản đồ số 1 phường T, thành phố B (Trần Thị Kiều O đứng tên sử dụng); thửa 10 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B (Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sử dụng 18 người); thửa 28 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B (Trần Thị Kiều O đồng sử dụng 09 người); thửa 31 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B (Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sử dụng 08 người); thửa 32 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B (Trần Thị Kiều O đồng sử dụng 09 người).
- Ngày 02/10/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành kê biên tài sản là quyền sử dụng đất do Bùi Vĩnh T được cấp quyền sử dụng đối với thửa đất số 213, tờ bản đồ số 12 tại phường A, thành phố B; thửa đất số 199, 200, 204, 209, 211, 212, 231 tờ bản đồ 87 và thửa đất số 10, 31 tờ bản đồ số 6 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và ngày 28/02/2025, Cơ quan điều tra tiến hành kê biên đối với thửa đất 208, 230 tờ 87, phường T, thành phố B.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Fold2 5G màu hồng, số imei: 354156124009566 của Bùi Vĩnh T đã sử dụng vào việc phạm tội và tiếp tục áp dụng biện pháp kê biên đối với các thửa đất mà cơ quan điều tra đã kê biên ở trên để đảm đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu Bùi Vĩnh T trả lại số tiền bị chiếm đoạt. Do đó, căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 579, 580 Bộ luật dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên buộc bị can Bùi Vĩnh T bồi thường cho các bị hại theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 3.640.000.000 đồng mà T đã đưa cho ông L để được phân phối các nền đất sau khi được tách thửa và số tiền 10 tỷ đồng mà T mua lại phần vốn góp của bà N1, ông T3, ông S1 để được toàn quyền sử dụng thửa đất số 49 tờ bản đồ 15 phường T là số tiền do Bùi Vĩnh T chiếm đoạt của các bị hại. Do đó, đề nghị TAND tỉnh Đồng Nai cần buộc ông Nguyên Dư L3 và bà Vũ Thị N1 nộp lại số tiền trên để trả lại cho người bị hại theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-P2 ngày 31/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Vĩnh Tuấn về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2025/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:
- Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Vĩnh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Vĩnh T tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2023.
- Về dân sự: Áp dụng Khoản 5 Điều 275, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho 124 bị hại số tiền 100.103.475.440 đồng, chi tiết theo phụ lục 1, 2, 3.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Fold2 5G màu hồng, số imei: 354156124009566 của Bùi Vĩnh T. Vật chứng trên được giao qua Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai tại biên bản giao nhận vật chứng số NK25/88 ngày 04/4/2025.
- - Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm dừng giao dịch của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ tại văn bản số 1263/VPĐK – TTLT ngày 26/02/2022 (bút lục 1430 – 1434) và văn bản số 3310/VPĐK – TTLT ngày 05/7/2024 (bút lục 7760 – 7763) đối với các thửa đất gồm:
- + Thửa 213 tờ bản đồ 12 phường A, thành phố B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số DB414071 cấp ngày 15/4/2021 cho Lê Thị Yến N và Bùi Vĩnh T ngày 10/6/2021.
- + Thửa 312 tờ bản đồ số 7 phường B, thành phố B cấp giấy CNQSDĐ số AÐ 143936 ngày 13/12/2005 Lê Thị Yến N.
- + Thửa 199, 200, 204, 208, 209, 211, 212, 230, 231 tờ bản đồ 87 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CD144863 ngày 06/11/2019; giấy CNQSDĐ số CD144860 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144855 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144851 ngày 06/12/2022; GCNQSDĐ số CD 144867 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144846 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144869 ngày 07/11/2019; GCNQSDĐ số CP212346 ngày 26/01/2022; GCNQSDĐ số CD 144838 ngày 07/11/2019. Tất cả các giấy chứng nhận trên đều đứng tên Bùi Vĩnh T.
- + Thửa 528, 529 tờ bản đồ số 1 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CQ 680965 ngày 28/01/2019 và GCNQSDĐ số 867028 cấp ngày 19/9/2019 cho Trần Thị Kiều O.
- + Thửa 10 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CN 292980, CN 292983 ngày 17/5/2018 cho Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sở hữu 18 người.
- + Thửa 31 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CO 092175, CO 092175 ngày 31/5/2018 cho Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sở hữu 08 người.
- + Thửa 28 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CL485735 ngày 16/01/2018 cho Trần Thị Kiều O đồng sở hữu 09 người.
- + Thửa 32 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CL 617927 ngày 08/01/2018 cho Trần Thị Kiều O đồng sở hữu 04 người.
- - Tiếp tục kê biên các tài sản bảo đảm thi hành án theo lệnh kê biên số 02/CSKT – Đ4 ngày 02/10/2023 và lệnh kê biên số 571/CSKT – Đ4 ngày 28/02/2025 (bút lục 28, 8854) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đối với các thửa đất gồm:
- + Thửa 213 tờ bản đồ 12 phường A, thành phố B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB414071 cấp ngày 15/4/2021 cho Lê Thị Yến N và Bùi Vĩnh T ngày 10/6/2021.
- + Thửa 199, 200, 204, 208, 209, 211, 212, 230, 231 tờ bản đồ 87 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CD144863 ngày 06/11/2019; giấy CNQSDĐ số CD144860 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144855 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144851 ngày 06/12/2022; GCNQSDĐ số CD 144867 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144846 ngày 06/11/2019; GCNQSDĐ số CD144869 ngày 07/11/2019; GCNQSDĐ số CP212346 ngày 26/01/2022; GCNQSDĐ số CD 144838 ngày 07/11/2019. Tất cả các giấy chứng nhận trên đều đứng tên Bùi Vĩnh T.
- + Thửa 10 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CN 292980, CN 292983 ngày 17/5/2018 cho Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sở hữu 18 người.
- + Thửa 31 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B được cấp GCNQSDĐ số CO 092175, CO 092175 ngày 31/5/2018 cho Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sở hữu 08 người.
Đối với các tài sản đứng tên bị cáo T, O, N và các đồng sở hữu cần phải tiếp tục ngăn chặn giao dịch và kê biên để đảm thi hành án nghĩa vụ bồi thường tương ứng với phần sở hữu của bị cáo T đối với tài sản.
Buộc các ông bà Nguyễn Dư L, Vũ Thị N1, Nguyễn Văn T3, Vũ Cao S1 phải nộp lại số tiền liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể như sau: ông Nguyễn Dư L phải nộp 3.650.000.000 đồng (ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng); bà Vũ Thị N1 phải nộp 8.100.000.000 (tám tỷ một trăm triệu đồng); ông Nguyễn Văn T3 phải nộp 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng); ông Vũ Cao S1 phải nộp 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) để đảm bảo thi hành án cho các bị hại.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền thị hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 28/7/2025, bị cáo Bùi Vĩnh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Ngày 23/7/2025:
- Ông Bùi Văn T2 kháng cáo yêu cầu sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng yêu cầu ông Bùi Minh S3, bà Nguyễn Thị Phương L1 liên đới bồi thường cho bà H4 là 6.273.700.000 đồng, bà T1 là 1.499.000.000 đồng.
- Bà Hồ Thị T6 kháng cáo yêu cầu tuyên hủy quyết định kê biên, ngăn chặn đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 06, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Nguyễn Thị H4 kháng cáo yêu cầu hủy bỏ quyết định kê biên đối với thửa đất số 10 tờ bản đồ số 6 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 292979;
Ngày 24/7/2025, bà Nguyễn Thái Thùy V kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường;
Ngày 25/7/2025, ông Nguyễn Dư L kháng cáo yêu cầu hủy một phần bản án sơ thẩm về việc buộc ông L nộp lại số tiền 3.640.000.000 đồng và buộc bị cáo T thực hiện thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 44 tờ bản đồ số 15 tại T, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 28/7/2025:
- Bà Vũ Thị O1 kháng cáo yêu cầu hủy bỏ lệnh kê biên trả lại cho người mua đấu giá đối với tài sản thửa đất số 231, tờ bản đồ số 87 tọa lạc tại phường T, tỉnh Đồng Nai;
- Ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo yêu cầu hủy bỏ lệnh kê biên tài sản trả lại cho người mua đấu giá gồm 04 thửa đất số 204, 209, 211, 212 và tờ bản đồ số 87 tọa lạc tại phường T, tỉnh Đồng Nai;
- Ông Lê Mạnh H6 kháng cáo yêu cầu hủy bỏ lệnh kê biên tài sản trả lại cho người mua đấu giá gồm 02 thửa đất số 199, 200 tờ bản đồ số 87 tọa lạc tại phường T, tỉnh Đông Nai;
- Ông Vũ Hữu H5 kháng cáo yêu cầu hủy bỏ quyết định kê biên ngăn chặn giao dịch đối với thửa đất số 30, 31, 32, 33, 10 tờ bản đồ số 06 tại phường T, tỉnh Đồng Nai.
- Công ty TNHH D4 kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng hủy bỏ biện pháp kê biên đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 87 tại phường T, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Thế S2 kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm theo hướng buộc bị cáo T trả lại cho ông S2 18.000.000.000 đồng đã vay từ ông và công nhận quyền sử dụng đất, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn giao dịch đối với thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 833181 ngày 22/7/2020.
Ngày 29/7/2025:
- Ông Phạm Văn D kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do bỏ lọt tội phạm là ông Nguyễn Hoàng T15 và yêu cầu bị cáo T, ông T15 liên đới hoặc có trách nhiệm hoàn trả số tiền 525.015.000 đồng bị chiếm đoạt.
- Ông Trần Thanh T8 kháng cáo yêu cầu hủy một phần bản án sơ thẩm theo hướng gỡ bỏ biện pháp tạm ngưng giao dịch đối với thửa đất số 232 tờ bản đồ 87 tại phường T, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 30/7/2025, Ngân hàng Thương mại cổ phần T19 và phát triển kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm theo hướng tuyên hủy biện pháp ngăn chặn giao dịch đối với quyền sử dụng đất tại thửa số 528 tờ bản đồ số 1 tại xã T, tỉnh Đồng Nai. Đồng thời tiếp tục được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành Bản án số 141/2022/DS-ST ngày 30/9/2022.
Ngày 31/7/2025, Ngân hàng thương mại cổ phần P1 kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm theo hướng hủy bỏ biện pháp tạm ngưng giao dịch đối với thửa đất số 321 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai)
Ngày 19/8/2025, ông Vũ Cao S1, bà Vũ Thị N1, ông Nguyễn Văn T3 kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do không nhận được thông báo dời lịch và buộc phải nộp lại số tiền liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Bùi Vĩnh T thừa nhận hành vi phạm tội, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư Nguyễn Thị B1 trình bày: Tại Tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, có vi phạm tố tụng và đưa thiếu người tham gia tố tụng. Việc bỏ lọt tội phạm ảnh hưởng đến trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp sơ thẩm điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Vĩnh T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Để có tiền tiêu xài, từ năm 2017 đến năm 2020, Bùi Vĩnh T đã thành lập các Công ty cổ phần Đ4, Công ty cổ phần Đ5, Công ty cổ phần T20 với danh nghĩa là Giám đốc công ty, Bùi Vĩnh T đã tiến hành mua lại các thửa đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm tại phường T, thành phố B; xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, T thuê đơn vị thi công đường nhựa, phân ra nhiều nền có diện tích từ 100 m², tự lập các dự án trên các khu đất này khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép rồi chỉ đạo nhân viên quảng cáo, rao bán dự án đất nền, cam kết đất ở và ra sổ riêng từng nền. Bằng thủ đoạn trên, Bùi Vĩnh T đã thành lập 04 dự án và thu tiền của nhiều người bị hại rồi chiếm đoạt, cụ thể như sau:
- Dự án “khu dân cư Cát T12”, tại thửa đất số 49, tờ bản đồ 15 phường T, thành phố B. Từ tháng 3/2017 đến tháng 10/2021, T đã ký hợp đồng, thu tiền của nhiều khách hàng, trong đó có 46 bị hại làm đơn tố cáo gửi cơ quan điều tra, T đã chiếm đoạt tổng số tiền 45.533.230.000 đồng, trả lại 7.172.770.000 đồng, còn lại số tiền 38.360.460.000 đồng, T chiếm đoạt chưa trả cho các bị hại.
- Dự án “Khu dân cư Dragon City”, tại thửa đất 198, 199, 200, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 229, 230, 231, 232, 233, 234 tờ bản đồ 87 xã T, thành phố B trên đất trồng cây lâu năm. Từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2020, T đã ký hợp đồng, thu tiền của khách hàng trong đó có 47 bị hại làm đơn tố cáo gửi cơ quan điều tra, T đã chiếm đoạt tổng số tiền 36.237.264.000 đồng, trả lại 6.812.784.000 đồng, còn lại số tiền 29.424.480.000 đồng, T chiếm đoạt chưa trả cho các bị hại.
- Dự án “Eco City”, tại thửa đất 202, 203 tờ bản đồ địa chính số 3 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai trên đất trồng cây lâu năm và dự án “Khu dân cư Sonata” tại thửa đất số 228, 233, 237, 229, 232, 218 tờ bản đồ địa chính số 52 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, đất không thuộc quyền sử dụng của Bùi Vĩnh T nhưng T vẫn ký hợp đồng nhận tiền và chiếm đoạt của khách hàng. Từ tháng 6/2019 đến tháng 12/2021, Bùi Vĩnh T đã ký hợp đồng, thu tiền của khách hàng trong đó có 31 bị hại làm đơn tố cáo gửi Cơ quan điều tra, T đã chiếm đoạt tổng số tiền 36.160.065.440 đồng, trả lại 3.841.530.000 đồng, còn lại số tiền 32.318.535.440 đồng, T chiếm đoạt chưa trả cho các bị hại.
Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của 124 bị hại là 117.930.559.440 đồng.
[3] Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội đối với một số đối tượng, cụ thể:
[3.1] Quá trình điều tra xác định, trong năm 2017, T đã tự ý thành lập, tự vẽ Dự án khu dân cư Cát T12 (trước đó tự đặt tên dự án R) tại thửa đất số 49, tờ bản đồ 15, phường T, thành phố B, (diện tích 9.894m2, mục đích sử dụng 300m2 đất ở nông thôn và 9.594m2 đất trồng cây lâu năm). Sơ đồ phân lô các nền đất do T nhận lại từ chủ đất là ông Nguyễn Dư L. Trong năm 2018 T tự ý thành lập dự án Khu dân cư D trên đất nông nghiệp (trồng cây lâu năm) tại thửa đất 198, 199, 200, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 229, 230, 231, 232, 233, 234 tờ bản đồ 87 xã T, thành phố B của ông Hoàng Văn N5, T thuê đơn vị thi công đường nhựa (trên đường bê tông nội bộ đã có sẵn từ trước), trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường để cho khách hàng tin tưởng là dự án được cơ quan nhà nước cấp phép và tăng giá trị thửa đất để ký hợp đồng bán cho khách hàng với giá cao.
Bà Trần Thị Kiều O là vợ bị cáo, tùy từng thời điểm là đại diện pháp luật, thành viên góp vốn của Công ty cổ phần Đ5 và là thành viên góp vốn Công ty cổ phần Đ4, T là đại diện theo pháp luật và là Chủ tịch Hội đồng quản trị. O là người đứng ra ký hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng, phiếu thu tiền, biên bản cam kết trả lãi, thông báo yêu cầu thanh toán tiền, biên bản thanh lý hợp đồng và thông báo về việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khách hàng đối với các dự án trên. Như vậy, bà O vừa là vợ bị cáo T, vừa là đại diện theo pháp luật, thành viên góp vốn trong các công ty và là người đứng ra thỏa thuận mua đất để bán. Bà O biết và phải biết rõ đất trên không đủ điều kiện tách thửa và chưa thuộc quyên sở hữu của T nhưng vẫn đứng ra ký hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng, nhận tiền. Khi đến hạn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khách hàng, vì không có để giao nên O còn ký biên bản thỏa thuận trả lãi cho khách hàng và hẹn thời gian giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù các thửa đất trên chưa từng được Công ty làm thủ tục giao nhận đất, chuyển mục đích để thực hiện các dự án trên. Hành vi của bị cáo diễn ra trong thời gian dài, số tiền chiếm đoạt lớn và đối với nhiều người nên O phải biết rõ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó, hành vi của bà O có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T.
[3.2] Mặt khác, Công ty cổ phần Đ5 do bị cáo thành lập năm 2018, người đại diện theo pháp luật Nguyễn Thùy L2; 02 thành viên sáng lập còn lại là Trần Thị Kiều O và bà Hoàng Thị Anh T13. Công ty thay đổi lần 2, lần 3, lần 4 có T tham gia và làm giám đốc. Ngày 18/5/2020, Công ty Đ6 thay đổi lần thứ 5 và thay đổi người đại diện theo pháp luật là Trần Thị Kiều O - Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm giám đốc Công ty. Thành viên góp vốn và tỷ lệ góp vốn không thay đổi. Trong thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 08/2020, Công ty Đ5 do T làm Giám đốc đã ký hợp đồng, thu tiền của khách hàng trong đó có 48 bị hại. Do đó, bà Nguyễn Thùy L2 và bà Hoàng Thị Anh T13 cũng có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo. Ngoài ra, cần làm rõ hành vi của Hà Văn T14, Nguyễn Bá D1 trong việc góp vốn thành lập Công ty cổ phần T20 có vai trò như thế nào và bàn bạc với T trong việc phân lô bán đất nền và được hưởng lợi như thế nào, để có cơ sở xem xét trách nhiệm của các đối tượng này.
[3.3] Ngoài ra, Bùi Thanh X1 với vai trò là Giám đốc điều hành Chi nhánh 2 Công ty Đ5 và Nguyễn Đăng K1 là Giám đốc Chi nhánh 1 có nhiệm vụ quản lý, tuyển dụng, quản lý nhân viên..., cũng cần làm rõ vai trò của những đối tượng này như thế nào trong việc giúp sức cho Bùi Vĩnh T16, có hay không việc giúp sức của các đối tượng này. Đồng thời, làm rõ hành vi đồng phạm giúp sức của Đặng Minh Đ1, Phạm Tuấn A cho Bùi Vĩnh T để xử lý, trong việc trực tiếp nhận tiền của khách hàng và trực tiếp ký hợp đồng với khách hàng.
[3.4] Đối với ông Nguyễn Dư L ủy quyền giao cho T bán đất cho khách hàng thửa đất số 49 tờ bản đồ 15 phường T khi thửa đất chưa đủ điều kiện chuyến nhượng, việc bị cáo bán đất cho bị hại diễn ra trong thời gian dài, với nhiều người ông L biết nhưng vẫn để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do đó có dấu hiệu đồng phạm với T.
[3.5] Ông Hoàng Văn N5 ủy quyền cho T tìm kiếm khách hàng, chuyển mục đích sử dụng đất và tách thửa từ những thửa lớn ra từng thửa nhỏ dao động 100m². Tuy nhiên, trong thời gian được ủy quyền, T đã ký hợp đồng bán các lô nền thuộc một phần diện tích trong các thửa đất được ông N5 ủy quyền cho khách hàng. Việc mua bán diễn ra một cách công khai, rầm rộ, T thu tiền của khách xong có đưa lại cho ông N5 và cũng có lúc ông N5 nhận tiền từ khách mua. Ông N5 biết hành vi của bị cáo nhưng vẫn mặc nhiên để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo.
[3.6] Bùi Vĩnh T ký hợp đồng nhận ủy quyền từ ông Bùi Minh S3, mục đích là tìm kiếm khách hàng để ông S3 ký hợp đồng chuyển nhượng các lô nền đã được UBND huyện L đồng ý cho tách thửa, chuyển mục đích sang đất ở nông thôn đối với các thửa đất số 229, 232, 233, 231, 228, 218 tờ bản đồ số 4 xã A, huyện L. Tuy nhiên, T lại ký hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất trên cho nhiều người để lấy tiền. Cần làm rõ vai trò của ông S3 có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước với bị cáo việc mua bán, chuyển nhượng lấy tiền của khách hàng không, bởi vì việc mua bán xảy ra trong thời gian dài và diễn ra một cách công khai, qua đó xác định ông S3 có đồng phạm hay không.
[3.7] Đối với hành vi Bùi Văn Đ2, Bùi Văn P ký hợp đồng ủy quyền thửa đất 203 tờ bản đồ số 03 xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai để cho Bùi Vĩnh T bán cho Cao Thị Lan H8, Trần Thị Phương N6 và Trần Thế H9, hợp đồng được ông Đ2 ký xác nhận nhưng sau đó ông Đ2 lại bán toàn bộ thửa đất cho Trương Quốc H10, cũng chưa được điều tra làm rõ.
[3.8] Ông Đặng Trần Thanh L4 được ủy quyền bán đất khi đất chưa đủ điều kiện vẫn rao bán đất, ông L4 là người môi giới bất động sản nên phải hiểu rất rõ về tính pháp lý của các thửa đất khi chuyển nhượng cần phải đáp ứng những điều kiện gì, trong vụ án này mặc dù đất chưa đủ điều kiện nhưng ông vẫn rao bán và nhận tiền của 40 người với số tiền hơn 24 tỷ đồng. Mặc dù sau đó ông L4 đã hoàn trả lại tiền cho các bị hại nhưng đây chỉ là hình thức khắc phục hậu quả, tội phạm (nếu có) đã hoàn thành từ thời điểm ông L4 nhận tiền của các bị hại nên hành vi của ông L4 có dấu hiệu đồng phạm với T. Cần làm rõ số tiền 22.497.980.000 đồng ông L4 thu của 25 người là tiền bán thửa đất nào? chủ sở hữu là ai và đã được điều tra trong vụ án này không để xác định có phải là tiền do phạm tội mà có hay không để tịch thu trong vụ án vì theo hồ sơ thể hiện số tiền 22.497.980.000 đồng trả lại cho khách hàng được cấn trừ từ tiền bị cáo T và bà O phải chuyển nhượng đất cho ông Đặng Trần Anh T17 để lấy tiền trả lại.
[3.9] Đối với ông Nguyễn K1 khai nhận có giới thiệu cho bà Đinh Thị H11 tìm hiểu và ký hợp đồng với Trần Thị Kiều O – Phó Tổng giám đốc công ty Đ5 để nhận chuyển nhượng đồng sử dụng một phần thửa 228, tờ bản đồ số 87, phường T, có dấu hiệu giúp sức cho bị cáo T17 trong việc chiếm đoạt tài sản của bị hại.
[3.10] Ngoài ra, hành vi của ông Nguyễn Duy B2, luật sư của Công ty TNHH L5 trong việc ký làm chứng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa T17 với các bị hại Nguyễn Thị T18, Nguyễn Thị D2 cũng có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T17. Cần làm rõ ý thức của ông B2 khi ký làm chứng các hợp đồng này có biết các dự án của T17 không có thật, không đủ điều kiện chuyển nhượng hay không; việc ký làm chứng có đúng quy định của pháp luật không và ông B2 có hưởng thù lao từ việc làm chứng này không, từ đó mới có cơ sở xác định ông B2 có hay không có hành vi giúp sức cho bị cáo.
[3.11] Đối với việc chuyển nhượng thửa đất số 49, tờ bản đồ 15, phường T, thành phố B giữa bị cáo T17 với ông L và việc ông N5 ký hợp đồng chuyển nhượng cho T17 14 thửa đất có tổng diện tích 10.272m² thuộc tờ bản đồ số 87 tại phường T, thành phố B có dấu hiệu của tội trốn thuế, vì bị cáo khai nhận giá trị chuyển nhượng thực tế khi nhận chuyển nhượng thửa 49 với ông L là 44,5 tỷ đồng (BL 92), giá trị chuyển nhượng của 14 thửa đất với ông N5 là 4,5 triệu/m² nhưng trên hợp đồng công chứng chỉ ghi 1,8 tỷ. Cần thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ giá trị thửa đất chuyển nhượng tại thời điểm giao dịch; số tiền thực tế bị cáo T17 đã thanh toán cho ông L, ông N5 (tiền mặt hoặc thanh toán qua ngân hàng).
[3.12] Mặc dù cơ quan điều tra đã có Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 793/QĐ-CSKT-Đ4 ngày 28/02/2025 để giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với các vấn đề nêu trên nhưng Hội đồng xét xử xét thấy việc tách hành vi nêu trên là vi phạm thủ tục tố tụng vì đây không phải là quyết định tách vụ án theo quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự và cũng không thuộc trường hợp tách vụ án theo quy định nêu trên. Hơn nữa, việc tách hành vi như nêu trên sẽ không đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, ảnh hưởng trách nhiệm dân sự của bị cáo cũng như xác định số tiền ông L, ông N5 phải giao nộp để hoàn trả cho các bị hại.
[3.14] Về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra xác định bị cáo T17 có nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn N5 14 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 87 tại phường T, thành phố B với giá trị ghi trên hợp đồng là 1,8 tỷ đồng. Sau khi được quyền sử dụng các thửa đất trên, T17 thuê đơn vị thi công đường nhựa (trên đường bê tông nội bộ đã có sẵn từ trước), trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường để cho khách hàng tin tưởng là dự án được cơ quan nhà nước cấp phép và tăng giá trị thửa đất để ký hợp đồng bán cho khách hàng với giá cao. T17 tự đặt tên là “Dự án khu dân cư Dragon City”, cam kết đất ở, tách sổ riêng từng nền, cho nhân viên quảng cáo, bán các nền đất. Bằng thủ đoạn này, Công ty Đ5 do T17 làm Giám đốc đã ký hợp đồng, nhận tiền của khách bán các lô nền đất trong dự án không có thật, thu tiền của khách hàng để trả cho ông Hoàng Văn N5. Như vậy, số tiền bị cáo T17 trả cho ông N5 từ việc chuyển nhượng nêu trên là tiền do phạm tội mà có. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông N5 giao nộp lại số tiền này để đảm bảo bồi thường cho các bị hại là thiếu sót. Hơn nữa, như phân tích tại mục [3.12], do tách hành vi của ông N5 để xem xét về tội trốn thuế nên không đủ cơ sở xác định số tiền thực tế bị cáo đã trả cho ông N5 nên cũng chưa đủ căn cứ xác định số tiền ông N5 phải giao nộp. Điều này cho thấy cần thiết phải giải quyết các vấn đề này cùng lúc trong cùng vụ án mà không thể tách ra giải quyết riêng.
[3.15] Về kê biên tài sản, Thửa 28 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B (Trần Thị Kiều O đồng sử dụng 09 người; thửa 32 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B (Trần Thị Kiều O đồng sử dụng 09 người); thửa đất số 10 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B do Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sử dụng với 18 người và thửa 31 tờ bản đồ 6 phường T, thành phố B do Bùi Vĩnh T, Trần Thị Kiều O đồng sử dụng với 08 người hiện đang bị kê biên. Cấp sơ thẩm không đưa những người đồng sử dụng các thửa đất trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót, chưa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, có vi phạm tố tụng và đưa thiếu người tham gia tố tụng. Việc bỏ lọt tội phạm ảnh hưởng đến trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp nên Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp sơ thẩm điều tra lại.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ điều tra bổ sung 02 lần nhưng cơ quan tiến hành tố tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không có lỗi do bản án sơ thẩm bị hủy.
Nội dung yêu cầu kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[5] Án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Vĩnh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2025/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai điều tra lại theo quy định pháp luật.
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Vĩnh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thanh H1, Nguyễn Thái Thùy V2, Phạm Văn D, Vũ Thị N1, Vũ Cao S1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Dư L, Ngân hàng thương mại cổ phần P1- Chi nhánh Đ3 (OCB); Ngân hàng thương mại cổ phần T19 (P2); Hồ Thị T6; Nguyễn Thị H4; Nguyễn Văn Đ; Vũ Hữu H5; Lê Mạnh H6; Trần Thanh T8; Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố H; Nguyễn Thế S2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
| Hoàng Thanh Dũng | Hồ Thị Thanh Thúy |
| Phan Tô Ngọc |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Hồ Thị Thanh Thúy |
Bản án số 699/2025/HS-PT ngày 31/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 699/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2025/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai điều tra lại theo quy định pháp luật.
