Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 699/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 10 năm 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thụy
  2. Bà Bùi Thị Hạnh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 557/2024/TL-HNGĐ ngày 07 tháng 08 năm 2024 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1987; ĐKHKTT: TDP N, thị trấn C, C, thành phố Hà Nội (có mặt)

Bị đơn: Anh Trần Mạnh L, sinh năm 1985; ĐKNKTT: Tổ 10, cụm B, L, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số nhà C, ngõ B Đ, phường V, quận B, Hà Nội (Vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 07 năm 2024, tại bản tự khai, tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Trương Thị H trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Trần Mạnh L lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu tổ chức đám cưới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, thành phố Hà Nội ngày 17/09/2008. Qúa trình chung sống đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không còn hợp nhau, không quan tâm chăm sóc gia đình, không trách nhiệm với con. Khi có mâu thuẫn anh L đánh chị và có những câu nói xúc phạm chị. Khi mâu thuẫn xảy ra anh chị có nói chuyện để giải quyết vấn đề mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn căng thẳng nhất vào tháng 11 năm 2009 và sống ly thân từ thời gian đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn mâu thuẫn đã trầm trọng, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Trần Mạnh L.

- Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 21 tháng 07 năm 2011. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi cháu. Vì khi cháu sinh ra, chị H và anh L ly thân cháu Đ ở chị H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh L không có đóng góp chu cấp tiền cho con sinh hoạt và học tập. Một mình chị phải lo toan kinh tế để nuôi dưỡng cháu. Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hiện tại chị và cháu Đ đang ở nhà ông bà ngoại tại Thị trấn C, huyện C, Hà Nội. Hiện tại thu nhập mỗi tháng của chị được 7.000.000 - 8.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nhà ở: Chị Trương Thị Hoa H và anh Trần Mạnh L tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

-Về vay nợ chung: Chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn là anh Trần Mạnh L không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng: Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo yêu cầu giao nộp văn bản ý kiến trình bày quan điểm; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Trần Mạnh L.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Trần Mạnh L vắng mặt lần thứ 2 liên tiếp không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

- Tại biên bản xác minh ngày 08/8/2024, UBND phường V, quận B, thành phố Hà Nội cho biết: Chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L đang ở tại Số nhà C, ngõ B Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống tại địa phương theo phản ánh chị H và anh L có mâu thuẫn nguyên nhân không xác định được do chị H và anh L không yêu cầu hòa giải tại địa phương. Nay chị H xin ly hôn anh L đề nghị Tòa án căn cứ vào tình trạng mâu thuẫn và các quy định của pháp luật để giải quyết; Về con chung: Chị H và anh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 21 tháng 07 năm 2011. Khi chị H và anh L ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng và nguyện vọng của con để quyết định giao con nhằm đảm bảo quyền lợi ích của đứa trẻ; Về tài sản, nhà ở chung, vay nợ: Do các đương sự không yêu cầu địa phương hoà giải nên không xác định được. Hiện tại chị H đã chuyển đi nơi khác sinh sống

- Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Tiến Đ (con của chị H, anh L) cháu trình bày: Bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ.

Tại phiên tòa: Chị Trương Thị H giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh L đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay; Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 21 tháng 07 năm 2011, hiện cháu đang ở với chị. Chị H có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc anh L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản, nhà ở chung: Chị H và anh L không có, không yêu cầu tòa án giải quyết; Về vay nợ: Chị H và anh L không vay nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ theo Điều 96; Điều 97, Điều 98; Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã được tiến hành đúng theo quy định khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; Điều 208 đến Điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và đã được tống đạt hợp lệ cho đương sự;

+ Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63 và chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn qui định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 76; Chấp hành đúng nội qui phiên tòa theo Điều 234, Tòa tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 213; Điều 246; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 63; khoản 4 Điều 70; khoản 2 Điều 71; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị H; về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 21/7/2011 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết; Về tài sản, nhà ở chung: Chị H xác nhận chị và anh L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về vay nợ: Chị H xác nhận chị và anh L không vay, nợ ai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Áp dụng vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn Anh Trần Mạnh L, sinh năm 1985 có ĐKNKTT: TỔ A, cụm B, phường L, quận B, thành phố Hà Nội và đang ở tại : Số nhà C, ngõ B Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn” là đúng thẩm quyền; Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tố tụng của Tòa án cho anh L nhưng không tống đạt được. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L theo quy định của pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án là hợp lệ. Tòa án đã niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh L, nhưng tại phiên Tòa hôm nay anh L vắng mặt lần thứ 2 liên tiếp không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân, giữa chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L có đăng ký kết hôn 17/9/2008 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận B, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận kết hôn số 136 quyển số 01/2008, đây là hôn nhân hợp pháp; Trong quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, anh L không có trách nhiệm dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm. Gia đình đã khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không giải quyết được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị H không còn tình cảm với anh L nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Quá trình xác minh của Tòa án tại nơi cư trú thể hiện anh chị có mâu thuẫn; Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh Trần Mạnh L không đến Tòa án làm việc, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án, không thể hiện quan điểm về việc chị V xin ly hôn, về việc nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nhà ở và vay nợ chung, không có biện pháp gì để cải thiện quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay, anh L vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh L không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài vì vậy căn cứ Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trương Thị H đối với anh Trần Mạnh L. Chị Trương Thị H được ly hôn với anh Trần Mạnh L.

[4] Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 21 tháng 07 năm 2011, hiện đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H xin được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; Xét thấy, cháu Đ đã trên 07 tuổi và đang ở với chị H, cùng có nguyện vọng được chung sống với chị H, bản thân chị H có công việc ổn định, có chỗ ở và có điều kiện chăm sóc con, không phụ thuộc vào anh L về kinh tế. Mặt khác, anh L cũng không đến Tòa án trình bày quan điểm gì về việc nuôi các con chung và cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, việc giao cho ai nuôi con là để đảm bảo quyền lợi của trẻ. Vì vậy, giao cháu Nguyễn Tiến Đ cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho các cháu, được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh L nên không xem xét.

Anh Trần Mạnh L có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung không ai được ngăn cản.

[5] Về tài sản và nhà đất ở chung: Chị Trương Thị H xác nhận chị và anh Trần Mạnh L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về vay nợ chung: Chị Trương Thị H xác nhận, chị H và anh Trần Mạnh L không vay, nợ ai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; Điều 19, 51, 56,58, 59,81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, 6 Nghị quyết 04/2017/NQ – HĐTP ngày 5 tháng 5 năm 2017 hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trương Thị H. Chị Trương Thị H được ly hôn với anh Trần Mạnh L.
  2. Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Trần Mạnh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 21 tháng 07 năm 2011. Giao cháu Nguyễn Tiến Đ cho chị Trương Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung trưởng thành khỏe mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị Trương Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi các con chung của anh L nên Tòa không xét.

Anh Trần Mạnh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

  1. Về tài sản và nhà đất ở chung: Chị Trương Thị H xác nhận chị và anh Trần Mạnh L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  2. Về vay nợ chung: Chị Trương Thị H xác nhận, chị và anh Trần Mạnh L không vay, nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
  3. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0030401 ngày 06/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Mạnh L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA DS quận Ba Đình;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Cẩm Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 699/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 699/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger