Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 698/2024/DS-ST

Ngày: 11-9-2024

V/v “T/c hợp đồng Tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Huỳnh Văn Đẹp
  • 2/ Ông Phạm Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 221/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 392/2024/QĐXX-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 292/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Ngân hàng TMCP S1)

Địa chỉ trụ sở: 266-268 Đường N, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Đức Thạch D- Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2).

Địa chỉ : B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật là ông Lê Ngọc T-chức vụ: Tổng giám đốc.

Địa chỉ nơi cư trú: Số G, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 2535/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022).

Đại diện ủy quyền: ông Nguyễn Vũ Khánh C-Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc. Địa chỉ nơi cư trú: 74 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 775/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/9/2023).

Đại diện ủy quyền lại là ông Lã Ngọc M-chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2) (Giấy ủy quyền số 725/2024/UQ-TGĐ ngày 11/01/2024) (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: 1 tổ C, khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Thường trú: 302 tổ A, ấp G, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2024 của nguyên đơn và người đại diện ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/08/2022, bà Đỗ Thị T1 ký với Ngân hàng TMCP S. Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bà Đỗ Thị T1 Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 436438-1697 với hạn mức sử dụng là 50.000.000đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Đỗ Thị T1 hiện các giao dịch với tổng số tiền là 48.122.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Đỗ Thị T1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền 0 đồng, (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Đỗ Thị T1 có thiện chí trả nợ. Do bà Đỗ Thị T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/01/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện K hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 55.943.051 đồng làm nợ gốc và tính lãi hàng tháng trên dư nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,X 150%= 3,lãi quá hạn).

Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Bà Đỗ Thị T1 yêu cầu Bà Đỗ Thị T1 trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Bà Đỗ Thị T1, tuy nhiên Bà Đỗ Thị T1 chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn Đỗ Thị T1 phải có nghĩa vụ trả ngay một lần số tiền 96,834,đồng (Bằng chữ: Chín mươi sáu triệu, tám trăm ba mươi bốn nghìn, ba trăm bảy mươi sáu đồngtrong đó: Nợ gốc: 55.943.051 đồng; Lãi quá hạn: 40.891325 đồng. Bà Đỗ Thị T1 trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 17/08/202 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Đối với bị đơn, đã được Tòa án Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bà T1 không có mặt. Nên Tòa án lập biên bản ghi nhận ý kiến của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Bà T1 phải chịu hậu quả do không có mặt và không giao nộp chứng cứ chứng minh thì Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ việc theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 30, Điều 35, Điều 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, chấp hành đúng thời hạn gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Bị đơn vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Đại diện ủy quyền lại của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, hợp lệ; Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin vắng mặt của đại diện ủy quyền của nguyên đơn theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bị đơn bà Đỗ Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

2.1 Nguyên đơn khởi kiện bà Đỗ Thị T1 thanh tuán nợ từ hợp đồng Tín dụng, đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự.

2.2 Tại thời điểm bị đơn bà Đỗ Thị T1 ký hợp đồng với Ngân hàng TMCP S thì địa chỉ ghi trong “Giấy đề nghị cấp thẻ Tín dụng kiêm hợp đồng” ngày 18/8/2022 thể hiện địa chỉ 302 tổ A ấp G, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a, b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

3.1 Xét yêu cầu của nguyên đơn; Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ Tín dụng bị đơn bà Đỗ Thị T1 ký ngày 18/8/2022, xác định giữa Ngân hàng và chủ thẻ bà Đỗ Thị T1 có thỏa thuận về việc cấp và sử dụng thẻ Tín dụng với hạn mức sử dụng mong muốn là 50.000.000 đồng và lãi suất trong hạn, quá hạn, phí theo bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ Tín dụng của Ngân hàng là một phần không thể tách rời của Giấy đề nghị cấp Thẻ Tín dụng. Việc thỏa thuận giữa các đương sự phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên.

3.2 Tại bản tự khai ngày 11/9/2024; đại diện ủy quyền lại của Ngân hàng yêu cầu: bị đơn bà Đỗ Thị T1 phải thanh toán khoản nợ tổng số tiền 98.639.426 đồng. Trong đó, nợ gốc : 55.943.051 đồng; Lãi quá hạn: 42.696.375 đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm và Đỗ Thị T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 12/9/20 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng; Căn cứ vào bản sao kê chi tiết tính lãi của bà Đỗ Thị T1 có số thẻ 436438-1697, trong quá trình sử dụng thẻ bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng, ngày 24/02/2023 Ngân hàng đã thông báo khởi kiện bà T1, bà T1 vẫn không thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nào. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T1 trả số tiền gốc theo Hợp đồng Tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

3.3 Về Lãi suất: Xét các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 2,48%/tháng theo Cấp Thẻ Tín dụng, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn (2,48%/tháng x 150%) tại Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ Tín dụng của Ngân hàng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010 như sau: “.. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

[4] Về phía bị đơn bà Đỗ Thị T1 được Tòa án tống đạt, niêm yết và thông báo kết quả hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng vắng mặt không có lý do, nên phải chịu hậu quả do không có mặt và không giao nộp chứng cứ chứng minh thì Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ việc theo Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, nguyên đơn không phải chịu án phí

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các 463 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.

Buộc bà Đỗ Thị T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 98.639.426 đ (chín mươi tám triệu sáu trăm ba bốn trăm hai mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc : 55.943.051 đồng; Lãi quá hạn: 42.696.375 đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm

Kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thi hành xong, bà Đỗ Thị T1 tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng TMCP S.

2/ Về án phí:

Bà Đỗ Thị T1 phải chịu 4.931.971đ (bốn triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn chín trăm bảy mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.037.286đ (hai triệu không trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm tám mươi sáu đồng) theo biên lai số 0024332 ngày 18/02/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành các khoản tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND. Tp HCM;
  • - Cục THADS. H HM;
  • - Phòng KTNV. TATp HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 698/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 698/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger