Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 698/2024/DS-ST

Ngày: 09-9-2024

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Dòn
  2. Ông Võ Hoàng Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 562/2024/TLST-DS ngày 02/7/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 831/2024/QĐXX- DSST ngày 14/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA(Việt Nam).

Địa chỉ: 91 Pastuer, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông JIN S. Chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông KO SUNG J. Chức vụ: Giám đốc kinh doanh (theo Giấy ủy quyền số 896/2023/QĐ-MAFC ngày 29/12/2023)

Ủy quyền lại cho:

  1. Ông Trần La Ngọc H. Chức vụ: Trưởng phòng Tố tụng (theo Giấy ủy quyền số 92/2024/GUQ-MAFC ngày 10/01/2024).
  2. Công ty Luật TNHH Một Thành Viên TNT. Địa chỉ: Phòng B, Tầng 4, Tòa nhà số B Trần Xuân S, phường TH, Quận B, Thành phố H (theo giấy ủy quyền số: 04/2024/GUQ-MAFC ngày 01/01/2024).

Công ty Luật TNHH Một Thành Viên TNT ủy quyền lại cho: Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 2000. Địa chỉ: Phòng B, Tầng 4, Tòa nhà số B Trần Xuân S, phường TH, Quận B, Thành phố H (theo Giấy ủy quyền ngày 02/01/2024) (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Dương Thị L, sinh năm 1981.

Địa chỉ: B/ ấp H, xã L, huyện B, Thành phố H (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2024, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Lan A trình bày:

Ngày 28/9/2022, Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA(VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng tín dụng điện tử số 3689079 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Dương Thị L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Dương Thị L, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của bà Dương Thị L. Theo Hợp đồng tín dụng, bà Dương Thị L có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 2.027.038 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 01/11/2022 đến ngày 01/10/2024 cho Công ty.

Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 04/05/2023 bà Dương Thị L đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty Tài chính MA đã giải ngân. Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà Dương Thị L chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được 07 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 14.255.000 đồng. Ngày 04/5/2023 đến nay, bà Dương Thị L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty. Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu bà Dương Thị L thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà Dương Thị L biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà Dương Thị L vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng bà Dương Thị L vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc bà Dương Thị L thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 09/09/2024 là: 43.704.592 đồng. Trong đó, số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán 25.417.067 đồng, Số tiền lãi trong hạn 8.578.109 đồng. Số tiền lãi quá hạn 8.968.741 đồng. Số tiền lãi chậm trả 740.675 đồng. Cách tính lãi trên được căn cứ tại khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Ngoài ra, Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bà Dương Thị L phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại bản tự khai bị đơn bà Dương Thị L trình bày:

Bà L có đứng tên dùm con ký với Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA(VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty) Hợp đồng tín dụng số: 3689079 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Dương Thị L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà L, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của bà L. Theo Hợp đồng tín dụng, bà Dương Thị L có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 2.027.038 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 01/11/2022 đến ngày 01/10/2024 cho Công ty.

Sau khi giải ngân bà L thanh toán trả góp cho Công ty được 07 kỳ với tổng số tiền là 14.255.000 đồng. Do hoàn cảnh khó khăn nên bà L ngưng góp cho Công ty từ đó đến nay. Nay Công ty yêu cầu bà L thanh toán tổng cộng đến ngày 09/09/2024 là: 43.704.592 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 25.417.067 đồng; Số tiền lãi trong hạn là 8.578.109 đồng; Số tiền lãi quá hạn là 8.968.741 đồng; Số tiền lãi chậm trả là 740.675 đồng bà L đồng ý nhưng do hiện tại bà L đang làm thuê, hoàn cảnh khó khăn, bà L xin trả chia ra từng đợt nhỏ thanh toán cụ thể là 8 đợt thanh toán. Bà L đồng ý trả số tiền gốc còn nợ lại là 25.417.067 đồng trong 08 lần và không có khả năng trả số tiền lãi phát sinh cho đến thời điểm hiện tại. Bà L yêu cầu Công ty không tính lãi phát sinh từ khoản vay nữa và sẽ thanh toán mỗi tháng 3.250.000 đồng trong 08 tháng để trả tiền gốc còn nợ. Đây là nợ riêng cá nhân của bà L không liên quan đến gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Dương Thị L, bà L có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[3] Do Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA yêu cầu buộc bị đơn bà Dương Thị L phải có trách nhiệm thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 09/09/2024 là: 43.704.592 đồng. Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.417.067 đồng, Số tiền lãi trong hạn: 8.578.109 đồng, Số tiền lãi quá hạn: 8.968.741 đồng, Số tiền lãi chậm trả: 740.675 đồng. Ngoài ra, công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bà L phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng điện tử và sự thừa nhận của bị đơn được Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA phê duyệt ngày 26/9/2022 thì giữa khách hàng là bà Dương Thị L và bên Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA có ký kết hợp đồng vay vốn tổng số tiền vay là 31.980.000 đồng trong đó khoản vay là 30.000.000 đồng, phí bảo biểm là 1.980.000 đồng; thời hạn vay: 24 tháng; lãi suất: 3.67 %/tháng và 44%/năm với mục đích mua hàng.

Căn cứ Báo cáo thu hồi nợ vay Hợp đồng tín dụng do Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA cung cấp thể hiện trong quá trình sử dụng thẻ bà L đã thanh toán trả góp cho công ty được 07 kỳ với tổng số tiền bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên công ty đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và phải chịu lãi trên nợ gốc bị quá hạn, lãi chậm trả theo quy định Hợp đồng tín dụng mà bà L đã ký với Công ty tài chính TNHH một thành viên MA.

Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...” Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.

Căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

Xét bà Dương Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho công ty là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng. Do đó, việc Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA khởi kiện yêu cầu bà L phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 25.417.067 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

[4.2]. Đối với yêu cầu trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 09/9/2024) là 18.287.525 đồng (Số tiền lãi trong hạn: 8.578.109 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 8.968.741 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 740.675 đồng và buộc bà L phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên MA. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Xét trong quá trình thanh toán nợ cho công ty, bị đơn bà Dương Thị L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và công ty đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà L sang nợ quá hạn là phù hợp.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA về việc buộc bị đơn bà Dương Thị L phải trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 09/9/2024) là 18.287.525 đồng và buộc bà L phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA là có cơ sở chấp nhận.

[4.3]. Đối với ý kiến của bị đơn bà Dương Thị L xin trả số tiền gốc còn nợ lại là 25.417.067 đồng trong 08 lần và không có khả năng trả số tiền lãi phát sinh cho đến thời điểm hiện tại. Bà L yêu cầu Công ty không tính lãi phát sinh từ khoản vay nữa và sẽ thanh toán mỗi tháng 3.250.000 đồng trong 8 tháng để trả tiền gốc còn nợ là không phù hợp nên không có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA được chấp nhận nên bị đơn bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.185.230 (Hai triệu một trăm tám mươi lăm hai trăm ba mươi) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA đối với bị đơn bà Dương Thị L về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
  2. Buộc bị đơn bà Dương Thị L có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 25.417.067 (Hai mươi lăm triệu, bốn trăm mười bảy nghìn, không trăm sáu mươi bảy) đồng và tiền lãi là 18.287.525 đồng (trong đó tiền lãi trong hạn là 8.578.109 đồng; tiền lãi quá hạn là 8.968.741 đồng; tiền lãi chậm trả là 740.675 đồng). Tổng cộng là 43.704.592 (Bốn mươi ba triệu, bảy trăm lẻ bốn ngàn năm trăm chín mươi hai) đồng.

    Các bên đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Dương Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. - Bị đơn bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.185.230 (Hai triệu một trăm tám mươi lăm hai trăm ba mươi) đồng.

    - Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên MA số tiền tạm ứng án phí là 844.233 (Tám trăm bốn mươi bốn nghìn, hai trăm ba mươi ba) đồng theo biên lai thu số 0004239 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (2);
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự cùng cấp (1);
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án (5).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thanh Huyền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 698/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 698/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger