TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 698/2023/HS-ST
Ngày 19 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thế Cần - Nguyên Bí thư Đoàn phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 712/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 713/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh ngày 04/01/2006, tại Kiên Giang (có mặt).
Nơi thường trú: Tổ 7, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị Hương L1, sinh năm 1987; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
1/ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1981 (có mặt).
Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ ông L2, thuộc tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Doãn N – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh P, sinh ngày 08/12/2007 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ ông T1, số H ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1/ Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bà Võ Thị N1, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Nhà trọ ông T1, số 832 ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Minh T2 – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị N1, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Nhà trọ ông T1, số 832 ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 04/01/2006, thường trú tại Tổ G, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang và Nguyễn Minh P, sinh ngày 08/12/2007, ngụ tại ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai là bạn bè quen biết ngoài xã hội.
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15 tháng 7 năm 2023, Nguyễn Thanh T đến sân bóng đá mini Kenda thuộc tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để đá bóng thì gặp Nguyễn Minh P cũng đang đá bóng tại đây. T thấy P có 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Future FI màu xanh đen, biển số 69F1-78398 nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe để sử dụng và bán lấy tiền tiêu xài khi cần thiết. Thực hiện ý định trên, khi đá bóng xong T nói P cho đi nhờ xe về nhà anh ruột để lấy chìa khóa và nói với P để T điều khiển xe thì P đồng ý và giao cho T điều khiển. Khi T điều khiển xe tới bãi đất trống thuộc tổ B, khu phố H, phường L, thành phố B cách sân bóng đá khoảng 01 km, T nói P xuống xe đứng đợi để T đi vào nhà anh trai ruột lấy chìa khóa. Sau đó, T đã chiếm đoạt xe và điều khiển bỏ đi. Thấy T đi lâu không quay lại, biết mình bị lừa nên P có kể lại cho Phạm Tuấn A và Võ Hoài B là bạn của P biết sự việc.
Sau khi T chiếm đoạt được chiếc xe mô tô của P, T điều khiển xe mô tô 69F1-78398 đi đến địa phận thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì va chạm giao thông với 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) đang đi bộ trên đường. Khi thấy lực lượng Công an đến T đã bỏ xe mô tô 69F1-78398 lại hiện trường rồi bỏ đi. Sau đó, T quay về sống lang thang tại khu vực Công viên 30 tháng 4 thuộc phường H, thành phố B. Đến ngày 22 tháng 9 năm 2023 khi T đang đi lang thang trên đoạn đường trước nhà số G khu phố A, phường T, T, Đồng Nai thì Phạm Tuấn A và Võ Hoài B nhìn thấy T nên đã bắt giữ và giao cho Công an phường L, thành phố B xử lý. T khai nhận hành phi phạm tội như trên.
Vật chứng và xử lý: T3 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Future FI màu xanh đen, biển số 69F1-783.98, số máy: 0320618, số khung: 119813 là tài sản do chị Võ Thị N1, sinh năm 1990, ngụ tại địa chỉ số H, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai, là mẹ ruột của cháu Nguyễn Minh P đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi xe mô tô trả lại cho chị Võ Thị N1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 508/TCKH-HĐĐG ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: “01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Future FI màu xanh đen, biển số 69F1-783.98, số máy: 0320618, số khung: 119813, đã qua sử dụng, đang sử dụng bình thường, giá trị sử dụng còn lại khoảng 90%; có giá trị định giá là 34.470.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng)”.
Về dân sự: Bị hại anh Nguyễn Minh P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số: 702/CT-VKSBH ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 (Chín) tháng tù đến 01 (Một) năm tù.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh T:
Về tội danh, điều luật thống nhất Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trình độ học vấn thấp, tài sản được thu hồi và trả lại cho bị hại.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Minh P:
Hành vi bị cáo Nguyễn Thanh T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trình độ học vấn thấp.
Luận tội Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 (Chín) tháng tù đến 01 (Một) năm tù là phù hợp quy định pháp luật.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 15/7/2023 tại tổ B, khu phố H, phường L, thành phố B, Nguyễn Thanh T đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Future FI màu xanh đen, biển số 69F1-783.98, có giá trị định giá là 34.470.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) của cháu Nguyễn Minh P đang quản lý sử dụng thì bị phát hiện, khởi tố để điều tra xử lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang và bất bình cho quần chúng nhân dân nên cần có mức án nghiêm để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp, tài sản được thu hồi và trả lại cho bị hại quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi quy định tại Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Minh P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[6] Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận còn trộm cắp 01 chiếc xe mô tô (không rõ biển số) tại nhà hàng M thuộc thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã chuyển nguồn tin về tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh xử lý theo quy định.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (TÁM) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2023.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị cáo; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Huỳnh Thế Cần Nguyễn Thị Ngọc H | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Nơi nhận:
- - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
- - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
- - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
- - THA Dân sự (1);
- - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa (1);
- - Thi hành án hình sự (6);
- - Bị cáo (1);
- - Người bào chữa cho bị cáo (1);
- - Người đại diện hợp pháp bị cáo (1);
- - Bị hại (1);
- - Người đại diện hợp pháp bị hại (1);
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (1);
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1);
- - Lưu (5).
LƯU Ý:
A. Phần nội dung:
- - Chưa chỉnh sửa áp dụng khoản, điều... đối với các bị cáo theo đề nghị của VKS.
- - Về bồi thường thiệt hại nếu bị hại vắng mặt kiểm tra lại yêu cầu.
B. Phần nhận định:
- - Việc áp dụng khoản, điều ... đối với tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và bị cáo.
- - Tính bồi thường cụ thể cho các bị cáo.
C. Phần Quyết định:....
Bản án số 698/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 698/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Tú
