TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 696/2024/HS-PT Ngày 28/8/2024 | - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;
Ông Phùng Hải Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai theo vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 420/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Võ Văn Đ, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2023/HS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Võ Văn Đ, sinh ngày 03/9/1992 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tất T và bà Dương Thị T1; có vợ là Đậu Thị T2 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/05/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, được trích xuất về Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H để đảm bảo việc xét xử phúc thẩm. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Hải Y – Công ty L4, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Anh Hồ Quang H, sinh năm 1987; địa chỉ: K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân và lợi dụng việc “sốt đất”, có nhiều người có mối quan hệ quen biết muốn mua đất, Võ Văn Đ đã nghĩ ra cách làm giả các hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chiếm đoạt tiền của các bị hại; ngoài ra Võ Văn Đ lừa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất), lừa vay tiền cho người khác, lừa “chạy án” để chiếm đoạt tiền của các bị hại. Với các hành vi phạm tội như sau:
- Hành vi thứ nhất: Ngày 18/01/2021, biết được 02 con trai của chị Trần Thị X là Đậu Văn H1 và Đậu Văn B bị Công an huyện D tạm giam về hành vi Cố ý gây thương tích, Đ đến nhà gặp chị X nói Đ có thể lo cho 02 con của chị X “được hưởng án treo”, chị X hỏi chi phí hết bao nhiêu, Đ nói 150.000.000 đồng, chị X nói mới vay Ngân hàng 250.000.000 đồng, đã sử dụng 50.000.000 đồng để khắc phục cho gia đình bị hại còn 200.000.000 đồng. Đ nói: “Bác đưa toàn bộ 200.000.000 đồng đây cho cháu, cháu chạy cũng chỉ hết 150.000.000 đồng thôi thừa lại bao nhiêu cháu sẽ trả lại bác”. Tin tưởng Đ là con cháu trong gia đình nên chị X đưa hết 200.000.000 đồng cho Đ, Đ đưa lại 10.000.000 đồng cho chị X nói giữ lại để đi thăm hai anh và lấy 190.000.000 đồng, chị X không yêu cầu Đ viết giấy nhận tiền. Khoảng 01 tháng sau, Đ đến gặp chị X nói đang thiếu 10.000.000 đồng nữa, chị X đưa tiếp cho Đ 10.000.000 đồng và cũng không viết giấy tờ gì. Khoảng 10 ngày sau, Đ tiếp tục yêu cầu chị X đưa tiếp 10.000.000 đồng, chị X đồng ý và đưa tiếp cho Đ 10.000.000 đồng, lần này chị X yêu cầu Đ viết giấy nhận tiền thể hiện toàn bộ nội dung những lần Đ đã nhận tiền từ chị X là 210.000.000 đồng (Lần đầu 190.000.000 đồng và 02 lần sau mỗi lần 10.000.000 đồng).
Tổng số tiền 210.000.000 đồng chiếm đoạt của chị X, Đ nhận tiền mặt và đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết, sử dụng vào việc gì thì Đ không nhớ. Sau đó 02 con trai của chị X vẫn bị Tòa án huyện D xử phạt tù có thời hạn, chị X đã yêu cầu Đ trả lại tiền, Đ đã trả cho chị X số tiền 165.500.000 đồng. Chị X yêu cầu Đ trả hết số tiền còn lại là 44.500.000 đồng mà Đ còn chiếm đoạt của chị X.
- Hành vi thứ 2: Vào đầu năm 2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân, Đ đã lừa anh Nguyễn Danh C rằng mình đã mua nhiều thửa đất, nay cần bán để thu hồi tiền. Khoảng 16 giờ, ngày 21/01/2022, Đ đến gặp hỏi mua của anh Đào Minh H2 01 thửa đất vườn của gia đình anh H2 có diện tích 371,4m², không có giấy tờ gì, anh H2 đồng ý bán thửa đất đó với giá 300.000.000 đồng. Trên đường về Đ điện thoại cho anh H2 nói ngày mai Đ sẽ đưa khách đến làm thủ tục mua thửa đất vườn đó của gia đình anh H2 và nhờ anh H2 nói với người khách mà Đ đưa đến giá bán là 360.000.000 đồng để Đ hưởng 60.000.000 đồng tiền chênh lệch. Sau đó Đ nói chuyện này với anh C thì anh C nói Đ dẫn đến gặp anh H2 để hỏi mua thửa đất này. Khi gặp anh H2 nói rằng thửa đất này chưa có giấy tờ, nếu Đ và C làm được giấy tờ thì anh H2 sẽ bán cho. Khi đó Đ nói “Em làm được giấy tờ” vì Đ nói quen anh Nguyễn Minh H3 làm ở Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, UBND huyện Y.
2
Tin tưởng Đ có thể làm được giấy tờ nên anh C đồng ý mua thửa đất của anh H2 với giá 360.000.000 đồng, rồi anh C đưa cho anh H2 100.000.000 đồng tiền đặt cọc mua đất. Sau đó hai bên lập hợp đồng đặt cọc, trong đó thể hiện anh C đã đặt cọc cho anh H2 100.000.000 đồng, số tiền còn lại 260.000.000 đồng sẽ giao khi có GCNQSD đất. Tại thời điểm này, Đ gặp riêng anh H2 và yêu cầu anh H2 đưa trước cho Đ số tiền 30.000.000 đồng trong tổng số tiền 60.000.000 đồng tiền chênh lệch giá mà Đ được hưởng nên anh H2 đã đưa cho Đ 30.000.000 đồng. Trên đường về anh C đã đưa cho Đ 10.000.000 đồng công giới thiệu đất của anh H2 cho anh C và 40.000.000 đồng theo yêu cầu của Đ để Đ sử dụng làm chi phí xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất anh C mua của anh H2. Tuy nhiên, số tiền 40.000.000 đồng đó Đ đã tiêu xài cá nhân hết mà không thực hiện thủ tục xin cấp GCNQSD đất cho anh C như Đ cam kết. Vì thực tế không có ai là Nguyễn Minh H3 làm ở văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở huyện Y mà đó là tên do Đ tự nghĩ ra để lừa anh C.
Khoảng cuối tháng 01/2022, Đ gọi điện cho anh C nói thửa đất của anh H2 có khách hỏi mua với giá 500.000.000 đồng và hỏi anh C có bán không, anh C đồng ý. Sau đó Đ dẫn 03 người khách gồm anh Cao Xuân T3 và 02 người khác đến nhà anh C để hỏi mua đất, tại đây anh C đồng ý bán thửa đất mà anh C mua của anh H2 cho anh T3 với giá 500.000.000 đồng, nhưng anh T3 phải đặt cọc trước 200.000.000 đồng, hẹn 02 tháng sau sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho anh T3. Sau đó, anh C và anh T3 đã lập hợp đồng đặt cọc thể hiện nội dung như đã nêu trên. Sau khi anh C nhận 200.000.000 đồng tiền cọc từ anh T3 thì Đ đề nghị anh C cho Đ 30.000.000 đồng tiền công giới thiệu khách và đưa cho người có tên Nguyễn Minh H3 10.000.000 đồng vì theo Đ, H3 đang làm thủ tục giấy tờ cho anh C, nhưng anh C chỉ đồng ý đưa cho Đ 20.000.000 đồng. Sau đó, người đàn ông có tên Nguyễn Minh H3 có gọi điện thoại cho anh C nói “Anh có nghe Đ nói em bán thửa đất đó rồi, Đ có nói em gửi cho anh 10.000.000 đồng tiền lộc, nhưng anh chỉ lấy 7.000.000 đồng thôi, còn 3.000.000 đồng thì anh để mừng tuổi cho cháu”, nghe vậy thì anh C đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày người đàn ông có tên Nguyễn Minh H3 điện thoại cho anh C nói sẽ cho 01 người đến lấy số tiền 7.000.000 đồng nên anh C đã đưa cho người đó 7.000.000 đồng. Người này là người chạy xe lai ở ngã ba D do Đ nhờ đến lấy tiền đưa về cho Đ, Đ không biết đó là ai.
Đối với số tiền 200.000.000 đồng mà anh C nhận tiền cọc của anh T3 thì do đến ngày hẹn, hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nhưng anh C không giao được GCNQSD đất cho anh T3 nên anh C buộc phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho anh T3 đồng thời trả thêm 50.000.000 đồng cho anh T3 vì lỗi vi phạm hợp đồng.
Như vậy, trong vụ việc này Võ Văn Đ đã chiếm đoạt của anh C số tiền là 77.000.000 đồng và chiếm đoạt của anh H2 30.000.000 đồng toàn bộ số tiền này Đ nhận tiền mặt, Đ đã tiêu xài cá nhân hết, không nhớ đã tiêu vào việc gì.
- Hành vi thứ 3: Khoảng ít ngày sau khi Võ Văn Đ đưa anh C đến đặt cọc
3
mua thửa đất của anh Đào Minh H2, anh H2 đã liên hệ với Đ hỏi về việc gia đình anh H2 còn có 01 thửa đất cạnh nhà của gia đình chưa làm được GCNQSD đất nên hỏi xem Đ có làm được GCNQSD đất cho gia đình anh H2 không? Mặc dù biết rõ bản thân không làm được GCNQSD đất theo yêu cầu của anh H2 nhưng do cần tiền tiêu xài nên Đ đã nảy sinh ý định lừa anh H2 để lấy tiền, vì vậy Đ đã nói Đ làm được với chi phí làm là 85.000.000 đồng và phải đưa trước cho Đ 40.000.000 đồng, sau khi có GCNQSD đất thì đưa tiếp 45.000.000 đồng còn lại cho Đ. Do tin tưởng Đ có thể làm được GCNQSD đất cho mình nên anh H2 đã đồng ý và đưa cho Đ số tiền 40.000.000 đồng như yêu cầu của Đ, do tin tưởng Đ nên khi đưa tiền anh H2 không yêu cầu Đ viết giấy nhận tiền. Sau khi nhận được số tiền 40.000.000 đồng, Đ không kiểm tra xem thửa đất vị trí ở đâu, đặc điểm như thế nào, không tiến hành bất cứ hoạt động nào để làm thủ tục xin cấp GCNQSD đất cho anh H2 mà sử dụng 40.000.000 đồng nhận từ anh H2 để chi tiêu cá nhân, Đ không nhớ đã tiêu vào việc gì.
- Hành vi thứ 4: Để tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh C, ngày 23/01/2022, Đ đã làm giả 01 hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 26/02/2022 giữa bà Phan Thị S với anh Nguyễn Minh H3 (thực tế thì không có anh H3 nào có thông tin như vậy tại thị trấn Y), trong đó thể hiện nội dung bà Phan Thị S đã bán cho Nguyễn Minh H3 thửa đất 640, tờ bản đồ số 299, diện tích 1147m², địa chỉ tại xóm N, xã B, huyện Y, Nghệ An với giá 480.000.000 đồng, đặt cọc 100.000.000 đồng. Đ nói với anh C thửa đất này bà S nhờ anh H3 làm thủ tục cấp GCNQSD đất nhưng do bà S không có tiền nên đã bán cho Nguyễn Minh H3 với giá là 480.000.000 đồng, với điều kiện bà S phải chịu chi phí cấp GCNQSD đất, anh H3 đã đặt cọc cho bà S 100.000.000 đồng nhưng bà S sử dụng số tiền đó đưa cho anh H3 làm thủ tục luôn.
Đến ngày 30/01/2022, Đ điện thoại nói anh C chở Đ đến thửa đất bà S, trên đường đi Đ nói dối với anh C rằng “Thửa đất của bà S anh H3 đã làm được giấy tờ, hiện đã có người hỏi mua với giá 700.000.000 đồng, đến ngày 07/02/2022 sẽ chồng cọc, anh H3 nói làm giấy tờ hết 70.000.000 đồng, nếu anh đồng ý thì anh H3 sẽ để lại thửa đất của bà S cho anh em ta với điều kiện khi bán được thửa đất thì đưa thêm cho anh H3 50.000.000 đồng, em hiện không có tiền nên nếu anh có thì chuyển trước đó cho anh H3 70.000.000 đồng còn em sẽ chuyển lại phần của em 35.000.000 đồng cho anh sau”, tin tưởng Đ nên anh C đồng ý và đưa cho Đ 70.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 07/2/2022, thấy không có ai đến đặt cọc tiền, anh C liên hệ hỏi Đ thì Đ lấy lý do họ đang chờ con chuyển tiền và hẹn đến ngày 10/02/2022 họ sẽ đến đặt cọc. Đến ngày 10/02/2022, thấy vẫn không thấy Đ gọi đi nhận tiền cọc của khách, anh C điện thoại hỏi Đ thì Đ nói dối với anh C rằng: “Anh H3 đã nhận cọc của khách khác số tiền 130.000.000 đồng rồi, anh H3 đã đưa tiền đó cho Ngô Văn Q đưa về cho anh rồi, anh nhận 100.000.000 đồng rồi đưa cho em 30.000.000 đồng”. Khoảng 5 ngày sau vẫn không thấy Q đưa tiền đến như lời Đ nói, anh C liên hệ hỏi Đ thì Đ đưa 50.000.000 đồng đến đưa cho anh C và nói: Số tiền 130.000.000 đồng tiền cọc đó anh H3 chưa lo được nên em đưa trước cho
4
anh 50.000.000 đồng.
Như vậy, trong vụ việc này Võ Văn Đ đã dùng hành vi gian dối chiếm đoạt của anh C số tiền là 70.000.000 đồng, toàn bộ số tiền này Đ nhận tiền mặt, Đ đã tiêu xài cá nhân hết, không nhớ đã tiêu vào việc gì.
- Hành vi thứ 5: Ngày 31/01/2022, để tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh C, Đ đã làm giả 01 hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 30/02/2022 giữa anh Nguyễn Viết H4 với anh Nguyễn Minh H3, người chứng kiến là Ngô Văn Q, trong đó thể hiện nội dung anh H4 bán cho anh H3 01 thửa đất 751, tờ bản đồ số 299, diện tích 728m², địa chỉ tại xóm A, xã B, huyện Y, Nghệ An. Đ đến gặp anh C nói dối với anh C rằng: “Có 01 thửa đất diện tích 751m² ở xã B, huyện Y mua của ông Nguyễn Viết H4, sinh năm 1978, trú tại xóm H, xã K, huyện Y bán, anh H3 đang ngồi với chủ đất ở thành phố V, nói anh em mình lên xem đất có mua được không, chủ bán với giá 1.500.000.000 đồng, nếu được thì 3 anh em mình cùng chung mua”, sau đó Đ đưa anh C đi xem 01 thửa đất ở xã B, tại đây Đ nói thửa đất này có người đã hỏi mua rồi. Tin tưởng Đ nên anh C đồng ý chung mua, Đ nói giờ đặt cọc trước cho anh H4 400.000.000 đồng và hỏi anh C góp bao nhiêu, anh C nói hiện giờ chỉ có 80.000.000 đồng để góp cùng rồi đưa cho Đ số tiền đó. Sau vụ việc này, Đ đưa hợp đồng đặt cọc giữa anh H4 với H3 cho anh C giữ. Như vậy trong vụ việc này Đ đã dùng hành vi gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Danh C 80.000.000 đồng, toàn bộ số tiền này Đ nhận tiền mặt, Đ đã tiêu xài cá nhân hết, không nhớ đã tiêu vào việc gì.
- Hành vi thứ 6: Để tiếp tục lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh C, Đ đã làm giả hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 27/12/2021 giữa ông Đặng Trọng D, bà Nguyễn Thị T4 và Võ Văn Đ, trong đó thể hiện việc Đ mua của ông D bà T4 thửa đất số 15/408, có diện tích 674m², địa chỉ tại xóm H, xã V, Y với giá 1.090.000.000 đồng, đặt cọc trước 90.000.000 đồng, Đ nói dối với anh C rằng thửa đất này đã nhờ người làm thủ tục tách bìa cho Đ rồi, hiện Đ đang cần tiền, nếu anh C có nhu cầu thì góp vốn 40.000.000 đồng và Đ sẽ viết giấy cam kết sau khi bán được thì sẽ chia theo tỷ lệ góp vốn. Tin tưởng Đ nên anh C đồng ý góp vốn, đưa cho Đ 40.000.000 đồng. Để anh C tin tưởng, Đ đưa hợp đồng mà Đ đã làm giả giữa vợ chồng ông D, bà T4 với Đ cho anh C giữ. Ngày 24/02/2022, Đ điện thoại nói dối anh C: “Em hiện đang bị Công an bắt giữ về việc đánh người khi đi đòi nợ, đang cần tiền để giải quyết mà em không có tiền nên thửa đất mua của ông D bà T4 đó anh đưa cho em thêm 40.000.000 đồng nữa rồi em để lại thửa đất đó cho anh luôn, anh đưa trước cho em 11.000.000 đồng để em lo công việc”. Tin lời Đ, anh C đồng ý nên đưa cho Đ 11.000.000 đồng. Ngày 01/3/2022, Đ hẹn gặp và viết hợp đồng đặt cọc chuyển thửa đất mua của ông D bà T4 cho anh C. Tại đây anh C đưa tiếp số tiền 30.000.000 đồng cho Đ.
Như vậy, trong vụ việc này Võ Văn Đ đã chiếm đoạt của anh C số tiền 81.000.000 đồng, toàn bộ số tiền này Đ nhận tiền mặt, Đ đã tiêu xài cá nhân hết, không nhớ đã tiêu vào việc gì.
5
- Hành vi thứ 7: Ngày 25/01/2022, do cần tiền tiêu xài nên Võ Văn Đ tiếp tục lừa đảo đảo chiếm đoạt tiền của anh C, Đ chở anh C đi xem 01 thửa đất tại xóm H, xã V, huyện Y, Đ nói dối với anh C đó là thửa đất của ông S là đất mà Đ và anh H3 đã mua với giá 600.000.000 đồng, hiện đã có người hỏi mua nhưng chưa được giá nên không bán rồi hỏi anh C chung vào 50.000.000 đồng với Đ, nhưng anh C yêu cầu phải có hợp đồng đặt cọc giữa Đ, H3 với ông S thì mới đồng ý góp tiền. Đ nói dối với anh C: Hiện toàn bộ giấy tờ mua bán thì anh H3 đang giữ để làm thủ tục sang tên còn chủ đất hiện giờ không ở nhà nên không gặp được. Ngày 26/01/2022, Đ đến gặp anh C nói: “hiện giấy tờ thủ tục đất của ông S anh H3 đang giữ nên anh không đồng ý góp vốn, em đang cần tiền nên anh cho em mượn 50.000.000 đồng, em sẽ viết giấy vay anh 150.000.000 đồng, đến khi bán được thửa đất của ông Sáu E sẽ trả lại anh 150.000.000 đồng xem như anh góp vốn với em và anh H3 mua thửa đất của ông S 50.000.000 đồng”. Anh C tin tưởng nên đã đưa cho Đ số tiền 50.000.000 đồng, Đ đã chiếm đoạt số tiền này của anh C, toàn bộ số tiền này Đ nhận tiền mặt, Đ đã tiêu xài cá nhân hết, không nhớ đã tiêu vào việc gì.
- Hành vi thứ 8: Vào khoảng tháng 3/2022, thông qua ông Nguyễn Văn N, anh Trần Công L nghe nói Võ Văn Đ có thửa đất cần bán. Anh L nhờ ông N dẫn đi gặp anh Đ để hỏi mua thửa đất này. Sau đó, Đ đưa anh L và ông N đi đến xóm A, xã S, huyện Y để xem đất. Quá trình này Đ lừa anh L rằng thửa đất đó đang thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị T5 nhưng bà T5 đã đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất đó cho Đ với giá 500.000.000 đồng. Để anh L tin tưởng Đ đã cho anh L xem Hợp đồng đặt cọc giữa bà Trần Thị T5 với Đ với nội dung Đ đã đặt cọc cho bà T5 150.000.000 đồng để mua thửa đất này (hợp đồng đặt cọc này là do Đ tự làm giả). Đ nói bán cho anh L thửa đất đó với giá 590.000.000 đồng. Sau đó, anh L nói với anh trai của mình là Trần Trọng Đ1 về việc Đ muốn bán thửa đất nêu trên. Ngày 27/3/2022, anh L đưa anh Đ1 đi xem thửa đất đó. Sau khi xem xong, anh L và anh Đ1 hẹn gặp Đ tại quán C1 thuộc xã M, huyện D để trao đổi việc mua bán. Tại đây, anh Đ1 và Đ thỏa thuận, anh Đ1 sẽ mua thửa đất đó với giá 590.000.000 đồng và đặt cọc trước cho Đ 120.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Đ viết 01 bản Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên rồi Đ và anh Đ1 ký vào hợp đồng này. Do thửa đất trên của bà Trần Thị T5 nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho anh Đ1 mà chiếm đoạt 120.000.000 đồng của anh Đ1 để tiêu xài cá nhân.
- Hành vi thứ 9: Khoảng 02 ngày sau khi Võ Văn Đ nhận tiền đặt cọc đất của anh Trần Trọng Đ1 như trên, Đ lại gọi điện cho anh Trần Công L lừa anh L rằng bà T5 cắt thêm 456m² để bán và hỏi anh L có mua không, đồng thời cam kết trong vòng 02 tháng sẽ ra GCNQSD đất mang tên Trần Công L. Anh L đồng ý mua thửa đất này và thống nhất với Đ giá bán là 320.000.000 đồng, đặt cọc trước 150.000.000 đồng. Ngày 30/3/2022, anh L đã giao 150.000.000 đồng tiền mặt cho Đ để đặt cọc mua thửa đất trên. Sau đó hai bên lập hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên rồi Đ và anh L ký vào hợp đồng
6
này. Do thửa đất trên của bà Trần Thị T5 nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho anh L mà chiếm đoạt 150.000.000 đồng của anh L và đã chi tiêu cá nhân hết, Đ không nhớ đã sử dụng vào việc gì.
- Hành vi thứ 10: Ngày 17/4/2022, Võ Văn Đ điện thoại lừa anh Trần Bá Q1 rằng Đ có thửa đất ở xóm A, xã S, huyện Y, Nghệ An có kích thước 14x24m muốn bán với giá 700.000.000 đồng và hỏi anh Q1 có mua không thì anh Q1 đã trực tiếp gặp Đ để đi xem đất. Quá trình này Đ lừa anh Q1 rằng Đ đã mua thửa đất này của bà Trần Thị T5, sau khi xem đất xong anh Q1 thống nhất với Đ sẽ mua thửa đất đó với giá 690.000.000 đồng, đặt cọc trước 100.000.000 đồng. Ngày 18/4/2022, anh Q1 và Đ gặp nhau tại quán trà sữa Nhân Tâm T để giao tiền đặt cọc mua đất, tại đây anh Q1 đã chuyển khoản cho Đ số tiền 80.000.000 đồng tiền đặt cọc vào tài khoản của anh Lê Văn T6 và đưa trực tiếp cho Đ 20.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận tiền, hai bên lập hợp đồng đặt cọc, đồng thời Đ hẹn đến ngày 05/6/2022 sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất, khi đó anh Q1 sẽ giao số tiền còn lại cho Đ.
Sau khi ký hợp đồng đặt cọc xong thì anh Q1 liên hệ với anh Nguyễn Đình T7 để bán thửa đất này với giá 690.000.000 đồng, anh T7 đồng ý mua và đã chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng cho anh Q1 để đặt cọc mua thửa đất này. Do thửa đất nêu trên là của bà Trần Thị T5 nên Đ không thể hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất cho anh Q1 được mà đã chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của anh Q1.
- Hành vi thứ 11: Ngày 25/4/2022, Võ Văn Đ điện thoại lừa anh Trần Bá Q1 rằng Đ muốn bán 01 thửa đất ở xóm A, xã S, huyện Y, Nghệ An có kích thước 16x40m với giá 600.000.000 đồng và hỏi anh Q1 có mua không nên anh Q1 đã trực tiếp gặp Đ để đi xem đất. Quá trình này Đ lừa anh Q1 rằng Đ đã mua thửa đất này của bà Trần Thị T5. Sau khi xem đất xong anh Q1 thống nhất với Đ sẽ mua thửa đất đó với giá 500.000.000 đồng, cọc trước 50.000.000 đồng. Đến 16 giờ cùng ngày, anh Q1 đã trực tiếp giao số tiền 50.000.000 đồng tiền đặt cọc cho Đ tại 01 quán cà phê trên địa bàn xã M, huyện D, Nghệ An. Sau khi nhận tiền, hai bên lập hợp đồng đặt cọc, đồng thời Đ hẹn đến ngày 25/6/2022 sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất, khi đó anh Q1 sẽ giao số tiền còn lại cho Đ. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc xong thì anh Q1 liên hệ với anh Nguyễn Hữu Đ2, sinh năm 1995, trú tại xã V, huyện T, Nghệ An để bán thửa đất này với giá 650.000.000 đồng, anh Đ2 đồng ý mua và đã chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng cho anh Q1 để đặt cọc mua thửa đất này. Do thửa đất nêu trên là của bà Trần Thị T5 nên Đ không thể hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất cho anh Q1 được mà chiếm đoạt của anh Q1 số tiền 50.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết, Đ không nhớ đã sử dụng vào việc gì.
- Hành vi thứ 12: Ngày 07/3/2022, Võ Văn Đ gọi điện lừa anh Trần Bá Q1 rằng Đ có 01 thửa đất tại xóm A, xã S, huyện Y, Nghệ An có diện tích 660m² muốn bán (thửa đất này không phải của Đ), hỏi anh Q1 có mua không. Sau đó anh Q1 đã rủ chị Phan Thị H5 đến gặp Đ để đi xem đất. Sau khi xem đất, anh Q1 đồng ý mua thửa đất trên với giá 400.000.000 đồng nhưng chỉ đặt cọc trước 50.000.000 đồng,
7
số tiền còn lại sẽ trả đủ khi Đ hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng. Sau khi anh Q1 giao số tiền 50.000.000 đồng cho Đ thì hai bên lập hợp đồng đặt cọc dưới sự chứng kiến của chị Phan Thị H5. Ngày 08/3/2022, anh Q1 liên lạc với anh Hồ Quang H để hỏi anh H có mua thửa đất nêu trên hay không? Khoảng 14 giờ ngày 08/3/2022, anh H cùng em trai là Hồ Huy H6 đến gặp anh Q1 để đi xem đất. Sau khi xem đất xong, anh Q1 nói với H là anh Q1 mua thửa đất đó của Võ Văn Đ với giá 450.000.000 đồng, đồng thời đưa hợp đồng đặt cọc giữa Q1 với Đ cho anh H xem. Tại thời điểm đó, Võ Văn Đ cũng có mặt nên anh H đề nghị trực tiếp làm việc với Đ để mua thửa đất đó với giá 410.000.000 đồng, trong đó 400.000.000 đồng trả cho Đ còn 10.000.000 đồng anh H trả tiền công giới thiệu cho anh Q1. Nghe anh H nói vậy thì các bên đồng ý. Sau đó anh H đã giao cho Đ 100.000.000 đồng tiền mặt để đặt cọc mua thửa đất trên, anh H và Đ lập hợp đồng đặt cọc. Sau đó Đ cũng đưa trả số tiền 60.000.000 đồng cho anh Q1, trong đó 10.000.000 đồng là tiền anh H trả tiền công giới thiệu H mua đất của Đ và 50.000.000 đồng anh Q1 đã đặt cọc trước đó để chấm dứt hợp đồng đặt cọc giữa Đ và anh Q1.
Khoảng 08 giờ, ngày 09/3/2022, anh H đã gặp Đ tại 01 quán cà phê thuộc địa phận xã L, huyện Y để trả cho Đ số tiền 310.000.000 đồng còn lại dưới sự chứng kiến của anh Q1. Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng theo thỏa thuận mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền 410.000.000 đồng của anh H để tiêu xài cá nhân.
- Hành vi thứ 13: Tối ngày 09/3/2022, Võ Văn Đ tiếp tục điện thoại lừa anh Q1 rằng Đ đang thiếu tiền lấy GCNQSD đất về cho bà T5, muốn bán thêm thửa đất 300m² (10x30)m và hỏi anh Q1 có ai cần mua thì giới thiệu cho Đ. Sau đó anh Q1 điện thoại nói với anh Hồ Quang H về việc này thì anh H đồng ý mua. Sáng ngày 10/3/2022, anh H trực tiếp gặp Đ và anh Q1 để trao đổi việc mua bán thửa đất này, anh H và Đ thống nhất bán thửa đất đó với giá 270.000.000 đồng, đặt cọc 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, giá bán trong hợp đồng thống nhất ghi 320.000.000 đồng, đặt cọc 150.000.000 đồng. Anh H đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng cho Đ vào tài khoản 666868668866 Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Việt P theo yêu cầu của Đ. Ngoài ra anh H còn đưa cho anh Q1 10.000.000 đồng tiền công giới thiệu cho anh H mua thửa đất này. Trong hợp đồng đặt cọc, Đ hẹn đến ngày 10/5/2022 sẽ hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, giao bìa đất cho anh H. Đến ngày 14/4/2022, anh Q1 điện thoại cho anh H nói có anh Phạm Văn H7, trú tại xóm H, xã D, huyện D muốn mua thửa đất nêu trên và hỏi anh H có bán cho anh H7 không, anh H đồng ý bán cho Q1 với giá 400.000.000 đồng, còn việc anh Q1 bán được bao nhiêu thì tùy anh Q1. Anh Q1 đồng ý rồi liên hệ với anh H7 thống nhất giá mua bán thửa đất đó là 455.000.000 đồng. Sau đó anh H7 đã chuyển 100.000.000 đồng cho anh Q1 để đặt cọc mua thửa đất này, đồng thời anh H7 và anh Quốc lập Hợp đồng đặt cọc hẹn 30 ngày sau sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho anh H7. Đến ngày 15/4/2022, anh Q1 đến gặp anh H và đưa cho anh H số tiền 100.000.000 đồng tiền mặt; chuyển khoản cho anh H số tiền 50.000.000 đồng (Tổng là 150.000.000 đồng) tiền cọc, nhưng do là bạn bè tin tưởng nhau nên anh
8
Q1 và anh H không làm hợp đồng đặt cọc.
Với hành vi gian dối nêu trên, Võ Văn Đ đã chiếm đoạt của anh H số tiền là 100.000.000 đồng.
Đối 100.000.000 đồng Đ yêu cầu anh H chuyển vào tài khoản Ngân hàng của anh Nguyễn Viết P1. Sau đó, P1 đến Ngân hàng M1 ở thị trấn D, huyện D rút tiền mặt đưa về cho Đ số tiền này, Đ đã sử dụng cá nhân hết số tiền này. Tuy nhiên, hiện nay anh P1 không có mặt tại địa phương.
Về dân sự đối với anh Hồ Quang H: Tổng số tiền Võ Văn Đ chiếm đoạt của anh Hồ Quang H là 510.000.000 đồng, Đ đã khắc phục cho anh H được số tiền 180.000.000 đồng. Cụ thể: Ngày 04/5/2022, Đ chuyển khoản trả cho anh H 50.000.000 đồng (chuyển từ tài khoản của anh Võ A H vào tài khoản của anh Hồ Huy H6 là em trai anh H). Số tiền này Đ chiếm đoạt của chị Lê Thị T8 (bị hại trong vụ án này) để trả cho anh H; Ngày 03/5/2022, Đ chuyển khoản trả cho anh H 50.000.000 đồng (chuyển từ tài khoản của anh Tăng Mạnh L1 vào tài khoản của anh Hồ Huy H6, là em trai anh H). Số tiền này Đ chiếm đoạt của anh Nguyễn Thế V (bị hại trong vụ án này) để trả cho anh H; Ngày 07/5/2022, Đ chuyển khoản trả cho anh H 10.000.000 đồng (chuyển từ tài khoản của chị Nguyễn Thị N1 vào tài khoản của anh Hồ Huy H6, là em trả anh H). Số tiền này Đ chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị X1 (bị hại trong vụ án này) để trả cho anh H; Số tiền còn lại là 70.000.000 đồng, Đ trả tiền mặt cho anh Hồ Quang H. Anh H yêu cầu Đ tiếp tục bồi thường cho anh H 330.000.000 đồng.
- Hành vi thứ 14: Vào đầu tháng 5/2022, anh Nguyễn Thế V vào mạng Internet để tìm người rao bán đất, sau đó anh V thấy Võ Văn Đ đang rao bán 01 thửa đất số 174, tờ bản đồ số 25, diện tích 400m² với giá 375.000.000 đồng. Thông qua số điện thoại Đ đăng trên trang mạng, anh V đã liên lạc với Đ và hẹn gặp nhau tại quán C2 để trao đổi việc mua bán đất. Tại đây, Đ lừa anh V rằng thửa đất trên là của Đ, sau đó Đ thống nhất bán cho anh V với giá 375.000.000 đồng. Sau khi thống nhất, Đ dẫn anh V đi xem đất. Ngày 03/5/2022, anh V chuyển khoản cho Võ Văn Đ 100.000.000 đồng tiền đặt cọc từ tài khoản của anh V là 51210001003720 Ngân hàng B1 đến số tài khoản 51210000837537 Ngân hàng BIDV mang tên Tăng Mạnh L1 như Đ yêu cầu. Sau khi nhận tiền, Đ viết hợp đồng đặt cọc và hẹn thời hạn đến ngày 03/6/2022 sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Khi có GCNQSD đất, anh V sẽ giao số tiền còn lại cho Đ.
Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng theo thỏa thuận mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng của anh H để tiêu xài cá nhân.
- Hành vi thứ 15: Đầu tháng 4/2022, thông qua người quen, anh Phạm Văn H7 nghe nói Võ Văn Đ có 01 thửa đất tại xóm A, xã S, huyện Y, Nghệ An đang rao bán. Ngày 14/4/2022, anh H7 cùng chị Đặng Thị M là nhân viên văn phòng B2 do anh H7 làm Giám đốc đi gặp Đ để trao đổi việc mua bán đất. Sau đó Đ đưa anh H7 và chị M đi xem đất và nói dối rằng: “Thửa đất này do mẹ nuôi của Đ ủy quyền
9
cho Đ bán hiện đang hoàn thiện thủ tục ủy quyền”. Sau khi trao đổi, anh H7 và Đ thống nhất Đ sẽ bán cho anh H7 thửa đất này với giá 345.000.000 đồng. Đặt cọc trước 100.000.000 đồng, khi nào có GCNQSD đất thì anh H7 sẽ chuyển cho Đ số tiền còn lại. Vì tin tưởng nên anh H7 đã đặt cọc cho Đ 100.000.000 đồng bằng tiền mặt để mua thửa đất trên. Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho anh H7 mà chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của anh H7 chi tiêu cá nhân hết, Đ không nhớ đã tiêu vào việc gì.
- Hành vi thứ 16: Ngày 16/4/2022, Võ Văn Đ lại điện thoại lừa anh Phạm Văn H7 rằng, Đ muốn bán tiếp 01 thửa đất sát cạnh thửa đất anh H7 mua ngày 14/4/2022. Thửa đất có diện tích là 480m² với giá 400.000.000 đồng. Anh H7 đồng ý mua thửa đất này và hai bên thống nhất sẽ đặt cọc trước 50.000.000 đồng, số tiền còn lại, anh H7 sẽ trả cho Đ khi có GCNQSD đất. Cùng ngày, Đ đến văn phòng của anh H7 nhận 50.000.000 đồng đặt cọc bằng cách chuyển khoản vào tài khoản số 9867438567 của anh Lê Văn T6 (lái xe taxi) và hai bên ký vào hợp đồng đặt cọc. Đ hẹn đến ngày 01/6/2022 sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho anh H7. Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho anh H7 mà chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của anh H7.
- Hành vi thứ 17: Ngày 20/4/2022, Võ Văn Đ tiếp tục lừa anh Phạm Văn H7 rằng, Đ muốn bán 01 thửa đất sát cạnh 02 thửa đất anh H7 đã mua, có diện tích 640m² với giá 450.000.000 đồng. Anh H7 đồng ý và hai bên thống nhất đặt cọc trước 50.000.000 đồng, số tiền còn lại anh H7 sẽ trả cho Đ khi có GCNQSD đất. Cùng ngày, Anh H7 đã chuyển khoản 50.000.000 đồng tiền đặt cọc từ tài khoản của chị Đặng Thị M đến tài khoản của anh Lê Văn T6 (lái xe taxi) và hai bên ký hợp đồng đặt cọc. Đ hẹn đến ngày 21/6/2022 sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho anh H7. Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho anh H7 mà chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của anh H7.
- Hành vi thứ 18: Ngày 10/4/2022, Võ Văn Đ điện thoại cho chị Đặng Thị Mỹ L2 rằng Đ có thửa đất tại xóm A, xã S, huyện Y, tỉnh Nghệ An có diện tích 336m² đang muốn bán và hỏi chị M có mua không, đồng thời Đ gửi Zalo hình ảnh GCNQSD đất cho chị M xem. Do trên GCNQSD đất mang tên Trần Thị T5 nên chị M hỏi vì sao lại như thế thì Đ nói dối rằng thửa đất này Đ đã mua một phần trong toàn bộ thửa đất của bà T5, bà T5 là mẹ nuôi của Đ nên đã bán cho Đ với giá rẻ, bà T5 giao cho Đ làm Giấy chứng nhận chuyển nhượng. Nghe Đ nói vậy, chị M tưởng thật nên ngày 11/4/2022, chị M đi cùng anh Phạm Văn H7 (cũng là người bị hại như đã nêu ở trên) đến gặp Đ để trao đổi việc mua bán đất. Sau đó Đ đưa chị M và anh H7 đi xem đất, sau khi em xong thì chị M đồng ý mua thửa đất nêu trên với giá 500.000.000 đồng, đặt cọc trước 100.000.000 đồng, số tiền còn lại chị M sẽ trả cho Đ khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Sau đó, chị M đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản 9867438567 Ngân hàng V1 mang tên Le Van T9 (theo yêu cầu của Đ). Sau đó Đ lập hợp đồng đặt cọc và hẹn đến ngày 20/5/2022 sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất. Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ
10
không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho chị M mà chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của chị M.
- Hành vi thứ 19: Ngày 04/5/2022, thông qua anh Võ Anh H8 và chị Lê Thị T8 nghe nói Võ Văn Đ có thửa đất ở xóm A, xã S, huyện Y, Nghệ An muốn bán. Sau đó, anh H8 đưa chị T8 đến gặp Đ để trao đổi việc mua bán đất. Quá trình đó Đ đưa cho chị T8 xem 01 hợp đồng đặt cọc giả giữa Đ với bà Trần Thị T5 để chị T8 tin tưởng rằng bà T5 đã bán thửa đất này cho Đ. Từ đó, chị T8 tin tưởng và đồng ý mua thửa đất có diện tích 528m² với giá 750.000.000 đồng, đặt cọc trước 100.000.000 đồng, số tiền còn lại thì chị T8 sẽ trả đủ cho Đ khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Khi chuyển tiền đặt cọc, Đ lại cung cấp cho chị T8 01 số tài khoản lạ, không phải mang tên Võ Văn Đ nên chị T8 không đồng ý. Sau đó, Đ nhờ tài khoản của anh Võ Anh H8 để cho T8 chuyển tiền vào, chị T8 đồng ý và chuyển vào tài khoản 100867045773 Ngân hàng V2 của anh H8 100.000.000 đồng cho Đ. Chuyển tiền xong Đ viết hợp đồng đặt cọc cho chị T8 cất giữ. Do thửa đất trên không phải của Đ nên Đ không thể làm các thủ tục chuyển nhượng đất cho chị T8 mà chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của chị T8.
- Hành vi thứ 20: Ngày 09/4/2022, Võ Văn Đ điện thoại lừa anh Trần Bá Q1 (là bị hại trong vụ án này) rằng Đ có 01 thửa đất có diện tích 420m² muốn bán với giá 600.000.000 đồng và hỏi anh Q1 có ai mua thì giới thiệu cho Đ. Sau đó, anh Q1 gọi điện thoại cho anh Trần Quang S1 về việc này thì anh S1 đồng ý mua. Sau đó anh Q1 dẫn vợ chồng anh S1 đến gặp Đ tại quán C2 để trao đổi việc mua bán thửa đất nêu trên. Tại đây, Đ nói với vợ chồng anh S1 là phải nhận làm người nhà của Đ thì bà Trần Thị T5 mới bán đất cho, vì thửa đất đó là của bà T5. Sau đó Đ dẫn vợ chồng anh S1 đi xem đất, rồi Đ đưa chị Trần Thị L3 vợ anh S1 vào gặp bà Trần Thị T5. Tại đây chị L3 thống nhất với bà Trần Thị T5 mua thửa đất 420m² với giá 520.000.000 đồng. Sau đó chị L3 và bà Tư lập hợp đồng đặt cọc trong đó thể hiện nội dung giá bán đất là 520.000.000 đồng, tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng. Lập hợp đồng xong thì Đ dẫn chị L3 đi ra ngoài. Đ yêu cầu chị L3 và anh S1 phải đưa cho Đ số tiền đặt cọc 150.000.000 đồng vì Đ lừa anh S1, chị L3 rằng bà T5 đã ủy quyền cho Đ bán thửa đất đó. Tin lời Đ, anh Trần Quang S1 đã chuyển số tiền 90.000.000 đồng cho Đ vào số tài khoản 9867438567 Ngân hàng V1 mang tên Lê Văn T6 như Đ yêu cầu và đưa 30.000.000 đồng tiền mặt cho Đ, do còn thiếu 30.000.000 đồng nên vợ chồng anh S1 đã vay anh Trần Bá Q1 để chuyển đủ cho Đ. Đ cam kết trong thời gian 45 ngày sẽ hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng đất cho vợ chồng anh S1.
Đến chiều tối cùng ngày, anh Q1 lại gọi điện cho vợ chồng anh S1 hỏi có muốn bán lại thửa đất vừa mua của bà T5 hay không? Vợ chồng anh S1 đồng ý bán với giá 700.000.000 đồng. Sau đó anh Q1 hẹn vợ chồng anh S1 ra quán cà phê gặp người mua đất là anh Phạm Văn H7. Tại đây, vợ chồng anh S1 và anh H7 thống nhất giá bán là 700.000.000 đồng, đặt cọc trước 200.000.000 đồng và hẹn trong 45 ngày sẽ ra GCNQSD đất mang tên Phạm Văn H7, khi đó anh H7 sẽ trả đủ số tiền còn lại cho vợ chồng anh S1. Sau đó, anh H7 đã chuyển khoản số tiền
11
200.000.000 đồng vào số tài khoản 3606281000699 Ngân hàng A1 của chị Trần Thị L3.
Do bà Trần Thị T5 chưa nhận được tiền đặt cọc và không đồng ý việc cho Đ nhận thay tiền đặt cọc nên bà T5 không đồng ý chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng anh S1, chị L3.
Với hành vi gian dối nêu trên, Võ Văn Đ đã chiếm đoạt của vợ chồng anh Trần Quang S1 số tiền 150.000.000 đồng.
- Hành vi thứ 21: Ngày 06/5/2022, thông qua người quen, chị Nguyễn Thị X1 nghe nói Võ Văn Đ có thể giúp người khác vay tiền một cách nhanh chóng nên chị X1 đã liên lạc với Đ để nhờ Đ liên hệ vay tiền giúp mình. Lợi dụng việc này, nhằm chiếm đoạt tài sản của chị X1, Đ lừa chị X1 rằng Đ có thể giúp chị X1 vay tiền ông chủ tên T10 với số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 2.000 đồng /01 ngày/01triệu đồng, nếu vay nhiều hơn thì lãi suất sẽ thấp hơn. Do cần tiền nên chị X1 đồng ý với yêu cầu của Đ, Đ đã yêu cầu chị X1 chuyển vào tài khoản Ngân hàng mang tên Nguyễn Xuân H9 số tiền 15.000.000 đồng để thẩm định hồ sơ, chị X1 đã thực hiện theo yêu cầu của Đ; Ngày 07/5/2022, Đ yêu cầu chị X1 chuyển khoản vào tài khoản mang tên Nguyễn Thị N1 số tiền 10.000.000 đồng để làm nhanh hồ sơ, chị X1 đã thực hiện theo yêu cầu của Đ; Ngày 11/5/2022, Đ yêu cầu chị X1 đưa cho Đ 100.000.000 đồng tiền mặt để ông chủ kiểm tra thực lực của khách hàng vay tiền. Chị X1 đồng ý và đưa số tiền 100.000.000 đồng cho Đ. Tổng cộng Đ đã chiếm đoạt của chị X1 số tiền là 125.000.000 đồng.
* Kết luận trưng cầu giám định:
- Tại Bản kết luận định giám định số 393/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 25/11/2022, Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Chữ ký, chữ viết “Trần Thị T5” dưới mục ĐẠI DIỆN BÊN A trên HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC đề ngày 30/3/2022; Chữ ký, chữ viết “Trần Thị T5” dưới mục ĐẠI DIỆN BÊN A trên HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC đề ngày 20/3/2022 so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị T5 trên các tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người ký, viết ra.
Chữ ký, chữ viết “Võ Văn Đ” dưới mục ĐẠI DIỆN BÊN B trên HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC đề ngày 30/3/2022; Chữ ký, chữ viết “Võ Văn Đ” dưới mục ĐẠI DIỆN BÊN B trên HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC đề ngày 20/3/2022 so với chữ ký, chữ viết của Võ Văn Đ trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
- Tại Bản kết luận giám định số 323/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 11/9/2023, Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Chữ ký, chữ viết “Võ Văn Đ” dưới mục ĐẠI DIỆN BÊN A trên 07 HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC đề ngày 01/3/2022; 27/3/2022; 30/3/2022; 18/4/2022; 25/4/2022; 03/5/2022; 04/5/2022; 27/12/2021 so với chữ ký, chữ viết của Võ Văn Đ trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2023/HS-ST ngày 03 tháng 11 năm
12
2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã căn cứ điểm a khoản 4 điều 174, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Võ Văn Đ 17 (Mười bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/5/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Võ Văn Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn Đ phải trả lại cho anh Hồ Quang H số tiền 440.000.000 đồng; Truy thu của anh Hồ Quang H trả lại cho anh Nguyễn Thế V số tiền 50.000.000 đồng, trả lại cho chị Lê Thị T8 số tiền 50.000.000 đồng, trả lại cho chị Nguyễn Thị X1 số tiền 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự khác, nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 08/11/2023, bị hại là anh Hồ Quang H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, không đồng ý việc truy thu số tiền 110.000.000 đồng để trả cho các bị hại khác bởi bản thân anh H cũng là bị hại, không biết số tiền bị cáo chuyển trả cho anh H là tiền do bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Văn Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đối với kháng cáo của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) giải quyết theo quy định của pháp luật; bị hại là anh Hồ Quang H có đơn xin xét xử vắng mặt, theo đó anh H đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của anh, không truy thu số tiền 110.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, mức hình phạt là tương xứng. Có đủ cơ sở khẳng định bị cáo sau khi lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại khác đã chuyển trả lại cho bị hại là anh Hồ Quang H tổng số tiền 110.000.000 đồng, đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có, vì vậy cần truy thu để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Kháng cáo của bị hại Hồ Quang H là không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1]. Kháng cáo của bị hại Hồ Quang H trong thời hạn luật định và hợp lệ,
13
được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Hồ Quang H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại Hồ Quang H.
[3]. Lời khai của bị cáo Võ Văn Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các Kết luận giám định, các vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2022, Võ Văn Đ đã dùng nhiều thủ đoạn gian dối như: Nhận tiền đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất không thuộc quyền sử dụng của mình, không được chủ sử dụng đất ủy quyền chuyển nhượng; biết mình không có khả năng cấp GCNQSD đất nhưng vẫn nhận tiền và hứa sẽ làm được; không có trách nhiệm xét xử vụ án nhưng nói mình có khả năng xin được án treo; nói dối mình có thể vay hộ tiền và yêu cầu người vay tiền chuyển tiền để làm thủ tục vay để thực hiện 21 hành vi lừa đảo, chiếm đoạt của 13 người bị hại trên địa bàn tỉnh Nghệ An với tổng số tiền 2.343.000.000 đồng, cụ thể: Chiếm đoạt của anh Trần Trọng Đ1 120.000.000 đồng; của anh Trần Công L 150.000.000 đồng; của anh Trần Bá Q1 150.000.000 đồng; của anh Phạm Văn H7 200.000.000 đồng; của anh Hồ Quang H 510.000.000 đồng; của anh Nguyễn Thế V 100.000.000 đồng; của chị Đặng Thị M 100.000.000 đồng; của chị Lê Thị T8 100.000.000 đồng; của vợ chồng anh Trần Quang S1 và chị Trần Thị L3 150.000.000 đồng; của anh Nguyễn Danh C 358.000.000 đồng; của anh Đào Minh H2 70.000.000 đồng; của chị Trần Thị X 210.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị X1 125.000.000 đồng.
Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử bị cáo Võ văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4]. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của các bị hại, gây bức xúc cho người dân, gây hoang mang dư luận xã hội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án, đánh giá khách quan, toàn diện vụ án, HĐXX thấy mức hình phạt 17 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là tương xứng, đúng quy định pháp luật, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Sau khi xét xử sơ thẩm, cả bị cáo và các bị hại trong vụ án đều không có kháng cáo về trách nhiệm hình sự của bị cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị nên quyết định về tội danh và hình phạt của bị cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
14
[5]. Xét kháng cáo của bị hại Hồ Quang H, HĐXX thấy:
Trên cơ sở tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Võ Văn Đ đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Hồ Quang H tổng số tiền 510.000.000 đồng, Đ đã khắc phục cho anh H được số tiền 180.000.000 đồng. Cụ thể:
+ Ngày 04/5/2022, Đ chuyển khoản trả cho anh H 50.000.000 đồng (chuyển từ tài khoản của anh Võ A H vào tài khoản của anh Hồ Huy H6 là em trai anh Hồ Quang H), tuy nhiên, số tiền này Đ chiếm đoạt của chị Lê Thị T8 (bị hại trong vụ án này) để trả cho anh H;
+ Ngày 03/5/2022, Đ chuyển khoản trả cho anh H 50.000.000 đồng (chuyển từ tài khoản của anh Tăng Mạnh L1 vào tài khoản của anh Hồ Huy H6, là em trai anh H), tuy nhiên, số tiền này Đ chiếm đoạt của anh Nguyễn Thế V (bị hại trong vụ án này) để trả cho anh H;
+ Ngày 07/5/2022, Đ chuyển khoản trả cho anh H 10.000.000 đồng (chuyển từ tài khoản của chị Nguyễn Thị N1 vào tài khoản của anh Hồ Huy H6, là em trai anh Hồ Quang H), tuy nhiên, số tiền này Đ chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị X1 (bị hại trong vụ án này) để trả cho anh H;
+ Số tiền còn lại là 70.000.000 đồng, Đ trả tiền mặt cho anh Hồ Quang H. Anh H yêu cầu Đ tiếp tục bồi thường cho anh H 330.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền 110.000.000 đồng bị cáo Võ Văn Đ chuyển trả cho anh Hồ Quang H là tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại là chị Lê Thị T8, anh Nguyễn Thế V, chị Nguyễn Thị X1 được xác định là tiền do phạm tội mà có nên Tòa án cấp sơ thẩm truy thu của anh Hồ Quang H số tiền này để trả lại cho các bị hại nêu trên, đồng thời buộc bị cáo Võ Văn Đ tiếp tục bồi thường, khắc phục hậu quả cho anh Hồ Quang H số tiền 440.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, kháng cáo của bị hại Hồ Quang H về trách nhiệm dân sự là không có cơ sở chấp nhận. Cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung này như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Hồ Quang H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại là anh Hồ Quang H và giữ nguyên
15
Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2023/HS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về phần trách nhiệm dân sự liên quan đến kháng cáo của bị hại Hồ Quang H, cụ thể:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn Đ phải trả lại cho anh Hồ Quang H số tiền 440.000.000 đồng; Truy thu của anh Hồ Quang H trả lại cho anh Nguyễn Thế V số tiền 50.000.000 đồng, trả lại cho chị Lê Thị T8 số tiền 50.000.000 đồng, trả lại cho chị Nguyễn Thị X1 số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2. Bị hại là anh Hồ Quang H phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0001406 ngày 12/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tuyển |
16
Bản án số 696/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 696/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 08/11/2023, bị hại là anh Hồ Quang H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, không đồng ý việc truy thu số tiền 110.000.000 đồng để trả cho các bị hại khác bởi bản thân anh H cũng là bị hại, không biết số tiền bị cáo chuyển trả cho anh H là tiền do bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có.
