Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 696/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-6-2024

“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Khanh

Bà Lê Thị Tý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Dương Thị Thanh N, sinh năm 1973; Địa chỉ: 1 C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1977; Thường trú: số B B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 1 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn ngày 29/2/2024, bản tự khai, bà N trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn N1 kết hôn với nhau từ năm 2012 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 198, quyển số 1/2012 do Ủy ban nhân dân phường B, quận B,Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/6/2012. Trước khi kết hôn với ông N1 thì bà và ông N1 đều đã kết hôn và ly hôn trước đó. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, hiện vợ chồng sống ly thân. Nay xác định tình cảm không còn nên bà xin ly hôn với ông N1; Về con chung: không có; về tài sản chung: tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết, về nợ chung: không có.

Ông N1 trình bày: ông xác nhận thời gian kết hôn, chung sống, con chung như bà N trình bày. Bà N xin ly hôn, ông thuận theo ý vợ nhưng ông không ký đơn ly hôn vì ông đã giữ lời hứa với mẹ ông trước khi chết là luôn yêu thương bà N. Còn ngoài ra ông không muốn trình bày gì thêm nữa.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn ông N1; về con chung: không có; Tài sản chung: tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa giải quyết; Về nợ chung: không có. Phía bị đơn có đơn xin vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân:

Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: bà N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông N1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về tố tụng:

Do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét, bà N và ông N1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông N1.

[3] Về nội dung:

Dương Thị Thanh N và ông Nguyễn Văn N1 đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 198, quyển số 1/2012 do Ủy ban nhân dân phường B, quận B ,Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/6/2012. Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn thì đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[3.1] Xét yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn ông N1 vì lý do tình cảm không còn và mong muốn ổn định cuộc sống. Về phía ông N1 không trình bày về mâu thuẫn, đồng ý thuận theo ý bà N nhưng không ký đơn ly hôn vì lời hứa với mẹ ruột ông. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm giữa bà N và ông N1 đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

[3.2] Xét về con chung: bà N và ông N1 khai không có.

[3.3] Về tài sản chung: bà N và ông N1 khai tự thỏa thuận; Về nợ chung: bà N và ông N1 khai không có và không tranh chấp do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N nộp tiền án phí theo quy định 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 21; Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, khoản 3 Điều 228, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56, 59 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thanh N:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung: tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

- Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được cấn trừ vào số tiền đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012049 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: bà N và ông N1 có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 696/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 696/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương thi thanh N xin ly hôn ông Nguyen van Nho
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger