Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 696/2024/HS-PT

Ngày: 21 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh

Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Loan P. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2023/HS-ST ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Thị Loan P, sinh năm 1977; nơi sinh tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, đường B, tổ C, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T và bà Nguyễn Thị L; có chồng là Nguyễn Văn B (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 05/9/2022, sau đó chuyển tạm giam, đến ngày 13/01/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giam, bị cáo hiện đang tại ngoại vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Mạnh H và luật sư Hoàng Ngọc Q thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (xin xét xử vắng mặt).

(Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D (sau đây viết tắt là Công ty D) hoạt động theo Giấy chứng nhận đầu tư số 48103100029 ngày 08/12/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh B và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần (mã số doanh nghiệp C1) ngày 08/12/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 08/9/2015 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B. Công ty có vốn điều lệ 100 tỷ đồng (1.000.000 cổ phần), các thành viên góp vốn gồm: Công ty Cổ phần D1 góp 80 tỷ đồng (800.000 cổ phần), đại diện là ông Lê Tuấn L1, Tổng Giám đốc; ông Lê Tuấn B1 góp 15 tỷ đồng (150.000 cổ phần); bà Quách Thị T1 góp 05 tỷ đồng (50.000 cổ phần). Đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Chu Quốc T2, Tổng Giám đốc.

Công ty D được phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu theo Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu số 16-XD/GP-BCT ngày 28/10/2013 của Bộ C2. Giấy phép có giá trị đến hết ngày 28/10/2018.

Năm 2015, Công ty D kinh doanh thua lỗ và nợ các ngân hàng hơn 430 tỷ đồng. Đầu tháng 9/2015 ông Lê Tuấn L1 thỏa thuận miệng với Luyện Xuân T3 về việc bán 800.000 cổ phần (tương ứng 80% cổ phần) Công ty D thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần D1 cho Luyện Xuân T3 với giá 430 tỷ đồng nhưng T3 không phải trả tiền mua cổ phần cho Công ty Cổ phần D1 mà chịu trách nhiệm trả các khoản nợ vay ngân hàng của Công ty D. Sau thỏa thuận nêu trên, Luyện Xuân T3 rủ Nguyễn Đức M cùng mua 80% cổ phần Công ty D, trong đó M sở hữu 30% cổ phần và làm Tổng Giám đốc, trực tiếp vào Bình Thuận điều hành hoạt động Công ty, còn lại 50% cổ phần là của T3. Nguyễn Đức M đồng ý với ý kiến của Luyện Xuân T3.

Theo yêu cầu của Luyện Xuân T3, ngày 09/9/2015, Công ty Cổ phần D1 (đại diện là ông Lê Tuấn L1) tiến hành thủ tục chuyển nhượng 800.000 cổ phần Công ty D, với giá 80 tỷ đồng cho 04 người, gồm: Nguyễn Đức M 300.000 cổ phần, giá 30 tỷ đồng; ông Nguyễn Khắc T4 200.000 cổ phần, giá 20 tỷ đồng; ông Chu Văn K 200.000 cổ phần, giá 20 tỷ đồng; bà Bùi Thị Thu H1 100.000 cổ phần, giá 10 tỷ đồng.

Sau khi hoàn thành trình tự, thủ tục chuyển nhượng cổ phần, Nguyễn Đức M được bầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty D và giữ chức danh Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty. Luyện Xuân T3 giao cho Nguyễn Đức M chỉ đạo, điều hành và quyết định việc tiêu thụ xăng dầu trong nước. Việc nhập khẩu xăng, dầu từ nước ngoài về do Luyện Xuân T3 quan hệ, thỏa thuận với bên bán hàng; trong đó Luyện Xuân T3 thỏa thuận mua số lượng hàng lớn nhưng chỉ khai hải quan số lượng nhỏ nên trong hợp đồng mua bán chỉ ghi một phần số lượng hàng thực tế nhập khẩu. Số lượng thực tế nhập khẩu được chia thành 02 vận đơn, trong đó 01 vận đơn có số lượng phù hợp với số lượng ghi trong Hợp đồng mua bán, dùng để khai báo hải quan, vận đơn còn lại là số lượng hàng nhập lậu. Việc thanh toán tiền mua hàng cho bên bán được thực hiện bằng 02 cách, trong đó lượng hàng khai báo hải quan thanh toán bằng L2 tại ngân hàng, lượng hàng nhập lậu thanh toán bằng cách chuyển tiền Việt Nam (VNĐ) vào tài khoản của người làm dịch vụ chuyển tiền ra nước ngoài và phải trả hết tiền hàng nhập lậu trước khi tàu chở hàng đến Việt Nam. Theo cách thức này, từ ngày 14/10/2015 đến ngày 29/01/2016, Luyện Xuân T3 đã thực hiện và hướng dẫn, chỉ đạo Nguyễn Đức M điều hành việc thực hiện nhập lậu 12 chuyến xăng, dầu với số lượng 136.661.705 lít (gồm 73.619.678 lít xăng A92 và 63.042.027 lít dầu DO), tổng trị giá 2.034.501.006.843 đồng.

Phòng Kinh doanh Công ty D do Vũ Văn B2 là Trưởng phòng, thực hiện nhiệm vụ mua bán xăng dầu nhập khẩu và xăng dầu nhập lậu. Trịnh Đình T5 là nhân viên Phòng Kinh doanh từ tháng 10/2015. T5 được Nguyễn Đức M, Vũ Văn B2 giao chuyên trách theo dõi, tổng 4 hợp số liệu về xuất bán xăng dầu nhập lậu và việc thanh toán tiền mua xăng dầu nhập lậu bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản cá nhân. Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Trịnh Đình T5 mở một số tài khoản ngân hàng đứng tên cá nhân Trịnh Đình T5. Đồng thời, Thành lập sổ theo dõi, tổng hợp trên máy vi tính gồm: Sổ theo dõi số lượng xăng dầu bán ra, số tiền đã thanh toán, số tiền còn nợ của từng khách hàng mua theo từng tháng và sổ quỹ thu, chi tiền mặt từ nguồn bán hàng nhập lậu.

Hàng ngày Trịnh Đình T5 lấy số liệu lượng xăng dầu nhập lậu đã xuất bán cho các khách hàng từ Vương Trường Đ (bộ phận kho); lấy số liệu về đơn giá, mức chiết khấu của từng loại xăng, dầu từ Vũ Văn B2 và theo dõi số tiền người mua chuyển vào tài khoản hoặc thanh toán bằng tiền mặt để ghi chép vào sổ theo dõi bán hàng và sổ quỹ tiền mặt.

Trong quá trình thực hiện, theo chỉ đạo của Vũ Văn B2, T5 phải mở thêm tài khoản tại các ngân hàng thương mại để người mua chuyển khoản thanh toán. Do bị mất Giấy chứng minh nhân dân, T5 đề xuất việc Hoàng Tuấn H2 (lái xe Công ty D) đứng tên mở tài khoản ngân hàng. Sau khi Hoàng Tuấn H2 mở tài khoản, T5 trực tiếp quản lý, theo dõi số liệu phát sinh của các tài khoản này để cập nhật vào các sô theo dõi.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ các sổ theo dõi nêu trên do Trịnh Đình T5 tự nguyện giao nộp. Căn cứ số liệu trong các sổ của Trịnh Đình T5, xác định: Từ tháng 10/2015 đến 31/01/2016, Trịnh Đình T5 đã theo dõi, tổng hợp việc tiêu thụ tổng số 15.254.450 lít xăng A92 và 25.116.920 lít dầu DO nhập lậu, trị giá 446.679.499.730 đồng cho các đối tượng Nguyễn Thanh T6, Lê Hồng S, Đỗ Minh T7, Hà Thị Kim N, Trần Duy P1, Lý Hưng P2, Trần Văn S1 và Trần Thị Loan P.

Đến nay, hành vi của Luyện Xuân T3, Nguyễn Đức M, Nguyễn Thanh S2, Vũ Văn B2 và các đồng phạm đã được điều tra, truy tố, xét xử về tội “Buôn lậu”; hành vi của Trịnh Đình T5, Nguyễn Thanh T6, Lê Hồng S, Đỗ Minh T7, Hà Thị Kim N, Trần Duy P1, Lý Hưng P2 và Trần Văn S1 đã được điều tra, truy tố, xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại điểm a, Khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Đối với Trần Thị Loan P, sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến ngày 05/9/2022, P ra đầu thú. Căn cứ tài liệu điều tra, xác định hành vi tiêu thụ xăng, dầu nhập lậu của Trần Thị Loan P như sau:

Công ty Cổ phần T10, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là Công ty T10) thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0305268530 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, đăng ký lần đầu ngày 20/10/2007, đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 06/11/2015. Trụ sở công ty tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật của Công ty là Huỳnh T8 - Giám đốc; người thực tế điều hành hoạt động của công ty là Trần Thị Loan P - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Công ty T10 ký Hợp đồng nguyên tắc mua bán nhiên liệu số 1305/2015/HĐNT/BKV-DĐHP, ngày 10/10/2015 với Công ty D. Thực hiện hợp đồng này, Công ty T10 đã mua tổng số 12.750.000 lít xăng dầu, trị giá 185.299.500.000 đồng, gồm: 9.450.000 lít xăng A92, trị giá 150.715.500.000 đồng và 3.300.000 lít dầu DO 0,05%S, trị giá 34.584.000.000 đồng. Công ty T10 đã thanh toán 163.227.550.544 đồng vào tài khoản Công ty D, còn nợ 12,75 tỷ đồng.

Ngoài số lượng xăng dầu mua bán hợp pháp nêu trên, tại sổ theo dõi của Trịnh Đình T5 thể hiện: Trong các ngày 10/11/2015, 18/12/2015 và 15/01/2016, Trần Thị Loan P đã mua của Công ty D 7.960.000 lít xăng dầu nhập lậu, tổng trị giá 90.321.298.000 đồng, gồm: 4.000.000 lít xăng, trị giá 53.640.000.000 đồng và 3.960.000 lít dầu DO 0,05%S, trị giá 36.681.298.000 đồng. P đã thanh toán cho Công ty D số tiền 77.366.968.000 đồng, gồm: Chuyển khoản 67.266.968.000 đồng, nộp tiền mặt và được bù trừ công nợ 10.100.000.000 đồng; còn nợ số tiền 12.954.240.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • Tháng 11/2015: Mua 570.000 lít dầu DO 0,05%S, trị giá 6.273.898.000 đồng; đã thanh toán 6.273.898.000 đồng.
  • Tháng 12/2015: Mua 4.000.000 lít xăng, trị giá 53.640.000.000 đồng và 3.350.000 lít dầu DO 0,05%S, trị giá 30.083.000.000 đồng (tổng số 83.723.000.000 đồng); đã thanh toán 20.097.910.000 đồng, gồm chuyển khoản 9.997.910.000 đồng và được bù trừ 10.100.000.000 đồng.
  • Tháng 01/2016: Mua 40.000 lít dầu DO 0,05%S, trị giá 324.400.000 đồng, đã thanh toán 50.995.160.000 đồng.

Căn cứ Sổ phụ tài khoản của Trịnh Đình T5, Hoàng Tuấn H2 và tài liệu do ngân hàng cung cấp, xác định Trần Thị Loan P đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D số tiền 67.266.968.000 đồng thông qua việc nhờ nhân viên Công ty T10 là Nguyễn Văn Đ1, Lê Phương N1, Lê Tài H3 và người khác chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Trịnh Đình T5, Hoàng Tuấn H2 như sau:

  • Ngày 13/11/2015, Nguyễn Văn Đ1 chuyển 2.998.350.000 đồng vào tài khoản số 4800205161363 của Trịnh Đình T5 mở tại A (trong sổ của T5 ghi số tiền 03 tỷ đồng).
  • Ngày 18/12/2015, Trần Tiên T9 chuyển 4.998.900.000 đồng vào tài khoản số 61110000400454 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3.
  • Ngày 31/12/2015, Lê Phương N1 chuyển 4.999.010.000 đồng vào tài khoản số 0500557122381 của Hoàng Tuấn H2 mở tại S4.
  • Ngày 31/12/2015, Trịnh S3 chuyển 7.000.000.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C.
  • Từ ngày 06 đến 14/01/2016, Lê Tài H3 chuyển 04 lần, tổng số tiền 33.996.260.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C.
  • Ngày 20/01/2016, Nguyễn Văn Đ1 chuyển 9.998.900.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C.

Riêng số tiền 3.273.898.000 đồng trong sổ của Trịnh Đình T5 ghi chuyển vào tài khoản của Hoàng Tuấn H2 ngày 17/11/2015 nhưng chưa xác định được số tài khoản nào nhận số tiền này.

Trong quá trình điều tra, ban đầu Trần Thị Loan P không khai nhận việc mua xăng, dầu nhập lậu của Công ty D. Sau khi ra đầu thú, P thừa nhận đã mua xăng, dầu nhập lậu của Công ty D như số liệu trong sổ của Trịnh Đình T5 theo dõi; P cũng thừa nhận đã nhờ người khác chuyển tiền vào tài khoản của Trịnh Đình T5 và Hoàng Tuấn H2 để trả tiền mua xăng, dầu nhập lậu như tài liệu do ngân hàng cung cấp nêu trên. Tuy nhiên, P khai không còn nợ tiền mua xăng dầu nhập lậu của Công ty D như số liệu trong sổ của Trịnh Đình T5 nhưng không có chứng từ, tài liệu chứng minh.

Trần Thị Loan P tự thực hiện việc mua, bán xăng dầu nhập lậu. Do P3 không mở sổ theo dõi nên không xác định được đã bán số xăng dầu nêu trên cho những ai. Mỗi lít xăng, dầu bán ra P3 được khoảng 30 - 40 đồng, tổng số tiền Phương được hưởng lợi khoảng 250 triệu đồng. Trần Thị L3 P3 tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính khai nhận trên đây. Ngày 01/12/2022, gia đình bị cáo đã nộp số tiền 250 triệu đồng vào tài khoản tạm giữ của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng, buôn lậu - Bộ C3 để khắc phục hậu quả tội phạm cho Trần Thị Loan P.

Tại bản cáo trạng số 1305/CTr-VKSTC-V3 ngày 12/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố bị cáo Trần Thị Loan P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Loan P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 250; khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Thị Loan P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2022 đến ngày 13/01/2023.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Thị Loan P 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng)

2. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu số tiền 250.000.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Trần Thị Loan P để sung vào công quỹ Nhà nước.

Số tiền này đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 gửi vào số tài khoản 3949.0.1052718.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B theo Lệnh chuyển có số 23002310300004159 ngày 13/9/2023, cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Buộc bị cáo Trần Thị L3 P phải nộp 12.955.980.000 đồng (Mười hai tỷ chín trăm năm mươi lăm triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/10/2023, bị cáo Trần Thị Loan P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét lại số tiền bị cáo còn nợ Công ty D buộc bị cáo nộp lại để sung vào công quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trần Thị Loan P vắng mặt.

Luật sư Nguyễn Mạnh H có đơn xin vắng mặt và trình bày quan điểm bảo vệ cho bị cáo Trần Thị L3 P đề nghị Hội đồng xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s, t, v khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2028/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 cho bị cáo P được giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Đối với số tiền 12.955.980.000đ là số tiền tranh chấp về việc thanh toán tiền mua hàng giữa Công ty D và Công ty D nên có thể khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác nên đề nghị hủy bỏ biên pháp tư pháp đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, bị cáo vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội " Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, bị cáo Trần Thị Loan P vắng mặt không có lý do chính đáng; người bào chữa cho bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của bị cáo và người bào chữa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án vắng mặt những người nêu trên.

[3] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa như lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:

[3.1] Trần Thị Loan P là Chủ tịch Hội đồng quản trị, điều hành hoạt động của Công ty Cổ phần T10, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là Công ty T10). Bị cáo quen biết với Luyện Xuân T3 và được T3 giới thiệu mua xăng dầu của Công ty D. Mặc dù biết số xăng dầu của Công ty D có nguồn gốc bất hợp pháp và không có hóa đơn, nhưng do thấy chiết khấu cao nên trong các ngày 10/11/2015, 18/12/2015 và 15/01/2016, bị cáo Trần Thị Loan P đã mua của Công ty D 7.960.000 lít xăng dầu nhập lậu, tổng trị giá 90.321.298.000 đồng để bán lại, thu lợi bất chính từ việc mua bán xăng dầu với số tiền 250.000.000 đồng.

[3.2] Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Loan P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Thị Loan P.

[4.1] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến các chủ trương, chính sách của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Quá trình điều tra, bị cáo đã bỏ trốn, cản trở công tác điều tra, làm vụ án kéo dài. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, dành cho bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 250 triệu đồng; nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có cha ruột là ông Trần T được tặng Huân chương Quyết thắng Hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng Hạng Nhì, Huân chương Lao động Hạng Ba, Huân chương Lao động Hạng Nhì, có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhì; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T tặng giấy khen, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù, mức án ở đầu khung hình phạt tại khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự trong khi bị cáo bị truy tố, xét xử ở khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự, là nhẹ và có lợi cho bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết mới là đã nộp số tiền 30.200.000 đồng và hiện đang bị bệnh nặng để xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tuy nhiên, như phân tích trên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là nhẹ nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4.2] Đối với kháng cáo xin xem xét lại số tiền bị cáo còn nợ Công ty D buộc bị cáo nộp lại để sung vào công quỹ Nhà nước.

Bị cáo P thừa nhận đã mua xăng, dầu nhập lậu của Công ty D như số liệu trong sổ của Trịnh Đình T5 theo dõi; bị cáo cũng thừa nhận đã nhờ người khác chuyển tiền vào tài khoản của Trịnh Đình T5 và Hoàng Tuấn H2 để trả tiền mua xăng, dầu nhập lậu như tài liệu do ngân hàng cung cấp. Căn cứ vào sổ theo dõi của Trịnh Đình T5 và Hoàng Tuấn H2 theo sổ phụ tài khoản chi tiết các lần chuyển tiền của Công ty T10 để mua số xăng dầu và tài liệu do ngân hàng cung cấp, thể hiện trong các ngày 10/11/2015, 18/12/2015 và 15/01/2016, Trần Thị Loan P đã mua của Công ty D 7.960.000 lít xăng dầu nhập lậu, tổng trị giá 90.321.298.000 đồng, đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty D thông qua việc nhờ nhân viên Công ty T10 là Nguyễn Văn Đ1, Lê Phương N1, Lê Tài H3 và người khác chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Trịnh Đình T5, Hoàng Tuấn H2 như sau:

  • Ngày 13/11/2015, Nguyễn Văn Đ1 chuyển 2.998.350.000 đồng vào tài khoản số 4800205161363 của Trịnh Đình T5 mở tại A (trong sổ của T5 ghi số tiền 03 tỷ đồng).
  • Ngày 18/12/2015, Trần Tiên T9 chuyển 4.998.900.000 đồng vào tài khoản số 61110000400454 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3.
  • Ngày 31/12/2015, Lê Phương N1 chuyển 4.999.010.000 đồng vào tài khoản số 0500557122381 của Hoàng Tuấn H2 mở tại S4.
  • Ngày 31/12/2015, Trịnh S3 chuyển 7.000.000.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C.
  • Từ ngày 06 đến 14/01/2016, Lê Tài H3 chuyển 04 lần, tổng số tiền 33.996.260.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C.
  • Ngày 20/01/2016, Nguyễn Văn Đ1 chuyển 9.998.900.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C.

Riêng số tiền 3.273.898.000 đồng trong sổ của Trịnh Đình T5 ghi chuyển vào tài khoản của Hoàng Tuấn H2 ngày 17/11/2015 nhưng chưa xác định được số tài khoản nào nhận số tiền này.

Ngoài việc thanh toán thông qua chuyển khoản như nêu trên, bị cáo còn được Công ty D bù trừ công nợ số tiền 10.100.000.000 đồng.

Như vậy, từ ngày 13/11/2015 đến ngày 20/01/2016, bị cáo P đã nhờ nhân viên và người khác chuyển khoản thanh toán cho Công ty D tổng số tiền 67.266.968.000 đồng, trong đó từ ngày 06 đến ngày 14/01/2016, nhờ Lê Tài H3 chuyển 04 lần, tổng số tiền 33.996.260.000 đồng vào tài khoản số 16910000665736 của Hoàng Tuấn H2 mở tại B3 Bà C. Số tiền này cũng phù hợp với lời khai nhận của Lê Tài H3. Do đó, Cáo trạng xác định Lê Tài H3 chuyển tổng cộng 43.995.160.000 đồng là chưa chính xác, có sai sót về mặt số liệu nhưng Cáo trạng vẫn xác định đúng số tiền bị cáo còn nợ Công ty D là 12.955.980.000 đồng nên sai sót này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án và bản án sơ thẩm cũng đã nhận định, làm rõ vấn đề này và xác định tổng số tiền bị cáo đã thanh toán cho Công ty D là 77.365.318.000 đồng, còn nợ lại 12.955.980.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo nêu trên của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Loan P, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Số tiền 30.200.000 (Ba mươi triệu hai trăm nghìn) đồng bị cáo Trần Thị Loan P đã nộp tại cấp phúc thẩm sẽ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị Loan P phải chịu, theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Loan P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Tuyên xử:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Loan P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[2] Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 250; khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Loan P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2022 đến ngày 13/01/2023.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Thị Loan P 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng)

[3] Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu số tiền 250.000.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Trần Thị Loan P để sung vào công quỹ Nhà nước.

Số tiền này đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 gửi vào số tài khoản 3949.0.1052718.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B theo Lệnh chuyển có số 23002310300004159 ngày 13/9/2023, cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Buộc bị cáo Trần Thị L3 P phải nộp 12.955.980.000 đồng (Mười hai tỷ chín trăm năm mươi lăm triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Số tiền 30.200.000 (Ba mươi triệu hai trăm nghìn) đồng bị cáo Trần Thị Loan P đã nộp tại cấp phúc thẩm theo biên lai thu số 0000113 ngày 11/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, sẽ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Thị Loan P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Thuận; (2)
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Công an tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Cục THA DS tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; (3)
  • - Bị cáo kháng cáo; (1)
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1). VP 05, 17b. (TTPT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 696/2024/HS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"

  • Số bản án: 696/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thị Loan P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Loan P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2023/HS-ST ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger