trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 695/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 30/11/2023

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thúy Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Đông;

2. Bà Ngô Thị Yêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 596/2023/TLST- HNGĐ ngày 17/10/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 55/2023/QÐST–HNGĐ ngày 17/11/2023, giữa:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Đội 9 thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố TP.

Bị đơn: Anh Trần Công Q (Trần Xuân Q1), sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Đội 9 thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố TP.

Có mặt: Nguyên đơn.

Vắng mặt: Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong Đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2023, Bản tự khai đề ngày 18/10/2023 tại Toà án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T kết hôn với anh Trần Công Q tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 31/5/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị cùng sống chung tại Đội, 9 thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Khoảng năm 2022, anh chị xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh Q thường xuyên uống rượu, không chịu làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, giữa anh chị không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn xảy ra trầm trọng từ tháng 10 năm 2022, anh Q đã chuyển ra thuê nhà khác ở. Chị T, anh Q sống ly thân từ đó đến nay, cả hai vợ chồng không có trách nhiệm gì với nhau. Gia đình hai bên đã đều biết mâu thuẫn của hai vợ chồng anh chị và xác định việc ly hôn là do anh chị tự quyết định. Nay, chị T xác định chị không còn tình cảm với anh Q. Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho vợ chồng anh chị.

- Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Trần Công Q có 01 con chung là cháu Trần Kha T1, sinh ngày 02/01/2021. Hiện nay cháu T1 đang sống cùng chị T. Chị có nguyện vọng sau khi ly hôn chị sẽ là người được trực tiếp nuôi dạy cháu T1 vì cháu T1 còn bé và kinh tế của chị T ổn định có thể lo cho cháu được đầy đủ. Hiện chị đang làm công việc nấu ăn trong công ty tư nhân, lương 20.000.000 đồng/tháng. Chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con cho chị.

- Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Trong Bản tự khai đề ngày 19/10/2023, anh Trần Công Q (Trần Xuân Q1) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Q1 kết hôn với chị T tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung tại Đội 9, thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Đầu năm 2023, anh chuyển ra ngoài sống và ly thân với chị T. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là do bất đồng quan điểm về kinh tế. Do bận công việc nên anh cũng không có hàn gắn tình cảm hay hòa giải mâu thuẫn với vợ. Hai gia đình cũng đã hòa giải nhưng không có hiệu quả. Nay chị T xin ly hôn thì anh không đồng ý vì vợ chồng đoàn tụ thì con cái không khổ.

Về con chung: Anh Q1 và chị T có 01 con chung là cháu Trần Kha T1, sinh ngày 02/01/2021. Hiện nay, cháu T1 đang sống cùng chị T, sức khỏe cháu tốt. Anh Q1 thường xuyên thăm nom con và có trách nhiệm với con, anh có chuyển khoản và cho con tiền mặt. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được quyền nuôi cháu T1. Hiện nay, anh đang làm thi công nội thất, thu nhập mỗi tháng từ 20.000.000 đồng – 25.000.000 đồng. Anh đang thuê nhà tại Đ, thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Trường hợp anh được nuôi cháu T1, anh sẽ chuyển cháu về quê anh tại thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Anh Q1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Anh Q1 không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bà Phạm Thị T2 mẹ đẻ của nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 19/10/2023 tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Q1 kết hôn tự nguyện. Hai anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, hai anh chị về sống chung tại Đ, thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, hai anh chị xảy ra mâu thuẫn do anh Q1 còn trẻ, không có trách nhiệm với gia đình. Chị T và anh Q1 đã nhiều lần cãi nhau nhưng anh Q1 không thay đổi. Đầu năm 2023 mâu thuẫn trầm trọng, anh Q1 chuyển ra ngoài sống, vợ chồng anh chị ly thân từ đó đến nay. Nay chị T xin ly hôn thì quan điểm của bà là đồng ý cho anh chị ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh Q1 có 01 con chung là cháu Trần Kha T1. Nay cháu đang sống cùng với chị T. Anh Q1 không có trách nhiệm gì với cháu. Nếu anh chị ly hôn thì tôi đề nghị giao cháu T1 cho chị T nuôi dưỡng vì chị T có điều kiện nuôi con tốt hơn. Tôi cũng tạo điều kiện giúp đỡ chị T nuôi cháu.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Hai anh chị không có tài sản chung.

* Kết quả xác minh tại chính quyền, đoàn thể xã K cho thấy:

Chị T, anh Q1 chưa từng đề nghị chính quyền địa phương hoà giải, tuy nhiên, có thông tin về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Q1, chị T. Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trần Kha T1. Hiện tại, chị T và cháu T1 đang sống cùng gia đình mẹ đẻ của chị T tại thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Bà T2 – mẹ đẻ chị T hỗ trợ chị trông nom cháu. Còn anh Q1 đang thuê nhà cũng ở thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội (cách nơi ở của chị T khoảng 100m – 200m).

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Phạm Thị T giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Trần Công Q.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Kha T1, sinh ngày 02/01/2021, chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T1. Chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chủ toạ phiên toà thông qua lời khai của anh Q tại phiên toà. Lời khai của anh Q thể hiện anh có nguyện vọng đoàn tụ, có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Toà án tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Thị T.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Kha T1, sinh ngày 02/01/2021. Giao cháu Trần Kha T1 cho chị Phạm Thị T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi (mười tám tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác của Toà án. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Q do chị T không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Phạm Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu về ly hôn, đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Q có nơi cư trú tại địa bàn huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Trần Công Q (kết hôn vào ngày 31/5/2021 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị đã xảy ra mâu thuẫn. Theo chị T, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Q thường xuyên uống rượu, không chịu làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị xác định không thể gắn bó sống chung được với anh Q nên có nguyện vọng được ly hôn. Anh Q cũng khẳng định anh và chị T có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng anh bất đồng quan điểm về kinh tế; đầu năm 2023 anh đã chuyển ra ngoài sống và ly thân với chị T. Quan điểm của anh Q là anh không đồng ý ly hôn vì vợ chồng đoàn tụ thì con cái không khổ nhưng do anh bận công việc nên anh cũng không hàn gắn tình cảm hay hòa giải mâu thuẫn với chị T. Quá trình giải quyết vụ án, việc hoà giải tại Toà án không thể thực hiện được do bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, để có một cuộc hôn nhân hoà thuận, con cái hạnh phúc phải dựa trên cơ sở của sự thương yêu, tôn trọng, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng và những người thân trong gia đình. Anh Q và chị T đã sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hôn nhân của anh chị tồn tại mâu thuẫn không thể hoá giải, tình cảm của chị T đối với anh Q không còn. Hai bên không thể hiện sự mong muốn đoàn tụ. Bản thân anh Q cũng không thiện chí tham gia hoà giải tại Toà án, không thể hiện mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Đây là căn cứ xác định tình cảm đôi bên không còn nên không thiện chí hoà giải mặc dù đã được thông báo tham gia phiên họp hoà giải tại Toà án, không còn muốn cố gắng để đoàn tụ. Như vậy, có thể coi mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q là có căn cứ, được chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh Q có 01 con chung là cháu Trần Kha T1, sinh ngày 02/01/2021. Cả chị T và anh Q đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, anh chị đều có công việc ổn định, có kinh tế, có chỗ ở ổn định là môi trường tốt cho cháu phát triển. Tuy nhiên, xét giao con cho ai cần căn cứ vào điều kiện của mỗi người và quyền lợi tối đa cho con chung. Đến thời điểm xét xử, cháu T1 chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định của pháp luật, giao cháu T1 cho mẹ cháu là chị T trực tiếp nuôi. Căn cứ vào quy định của pháp luật, điều kiện, yêu cầu của đương sự, xét giao cháu Trần Kha T1 cho chị Phạm Thị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi (mười tám tuổi) hoặc đến khi có quyết định khác của Toà án là phù hợp.

Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Dành cho các đương sự quyền yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị T, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Chị T, anh Q có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bằng vụ án khác khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

  • - Điều 56; 81,82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình.
  • - Khoản 1 Điều 28, 35, 39, 203, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Trần Công Q (Trần Xuân Q1).
  • - Về con chung: Giao cháu Trần Kha T1, sinh ngày 02/01/2021 cho chị Phạm Thị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác của Toà án.
  • Anh Q1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Dành cho các đương sự quyền yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp
  • Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị T, anh Q1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  • Chị T, anh Q1 có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bằng vụ án khác khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
  • - Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận chị Phạm Thị T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0007312 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh nay chuyển thành án phí. Chị T đã nộp đủ án phí.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Anh Trần Công Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Kim Chung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Triệu Thuý Hà

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 695/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 695/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị Thơm xin ly hôn anh Trần Công Quang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger