|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 695/2024/HC-PT Ngày: 09 - 7 - 2024 V/v Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Phạm Trí Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số:
56/2024/TLPT-HC ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định
xử phạt vi phạm hành chính”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 124/2023/HC-ST ngày 09 tháng 8 năm 2022
của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1113/2024/QĐPT-HC ngày
21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Người khởi kiện: Ông Trần Văn C, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp C, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Việt A, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ A, ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- - Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T – Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P (xin vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Nguyễn Văn H – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tư pháp thành phố Phú Quốc (có mặt)
- Ông Phạm Hữu K – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G, thành phố P (có mặt)
- - Người kháng cáo: Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện và người đại diện trình bày:
Ông Trần Văn C có diện tích đất khoảng 2.000m² do cha mẹ cho tại ấp G, xã G, thành phố P tỉnh Kiên Giang. Tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 07/01/2022 ông C bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi chiếm đất đối với diện tích 1.854m². Trên thực tế thì tại vị trí ông C bị xử phạt ông C còn một phần diện tích liền kề diện tích đất ông bị xử phạt. Tổng diện tích ông C đang sử dụng là 2.091,6m².
Ngày 18/01/2022 ông C đã khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đến Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Vụ án chưa được giải quyết xong thì ngày 07/6/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P tiếp tục ra Quyết định số 2814/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với ông C do có hành vi chiếm đất nông nghiệp diện tích 737,3m² tại ấp G. Diện tích đất này có một phần nằm trong diện tích 1.854m² mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đã xử phạt ông C tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 07/01/2022.
Ông C xác định việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xử phạt ông C tại Quyết định số 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C.
Ông C yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P.
Tại Văn bản số 769/UBND-NCPC ngày 23/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xác định tại vị trí đất ông C bị xử phạt ngày 07/6/2022 vào ngày 07/01/2022 ông C đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi vi phạm hành chính chiếm đất nông nghiệp (loại đất rừng phòng hộ tại khu vực nông thôn) đối với diện tích 1.854m². Ông C không thực hiện theo Quyết định số 17/QĐ-XPHC mà tiếp tục xây dựng nhà và hoàn thiện nhà trên phần móng nhà đã bị xử phạt là hành vi tái phạm.
Ngày 24/5/2022 Công chức địa chính xã G đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông C. Xác định ông C chiếm diện tích 737,3m² đất nông nghiệp (loại đất rừng đặc dụng tại khu vực nông thôn) vi phạm quy định tại điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Biên bản vi phạm hành chính được lập đúng theo trình tự thủ tục quy định. Ông C không đăng ký giải trình.
Ông C khai đất này có nguồn gốc sử dụng là do chuyển nhượng từ bà Mai Thị T1, nhưng không cung cấp được giấy tờ hợp pháp về nguồn gốc thửa đất theo quy định của Luật Đất đai.
Từ cơ sở trên, ngày 07/6/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ra Quyết định số 2814/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn C do có hành vi chiếm đất nông nghiệp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 và buộc trả lại đất đã chiếm diện tích 737,3m² là đúng theo quy định.
Đề nghị Tòa án bác đơn kiện của ông Trần Văn C.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 124/2023/HC-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C.
- - Hủy Quyết định số 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn C.
- - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/9/2023, người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P có văn bản xin xét xử vắng mặt và nêu ý kiến vẫn giữ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn Văn H và Phạm Hữu K thống nhất phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện vì đất ông C đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng ông C không chấp hành mà tiếp tục xây dựng thêm công trình trên các khoảng đất trống nên người bị kiện ra Quyết định số 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn C đối với hành vi này là đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cầu 1 có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề nghị bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tòa án triệu tập hợp lệ, người khởi kiện, người bị kiện xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án vắng mặt các đương sự này.
[2] Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 28/7/2004 Ủy ban nhân dân huyện P có Quyết định số 2543/QĐ-UB về việc thu hồi đất do bao chiếm, lấn chiếm đất đai do Nhà nước quản lý đối với bà Mai Thị Tuyết . Ngày 10/6/2005 bà T1 lại làm giấy tay chuyển nhượng 6.000m² cho ông Trần Văn Đ, bà Thị Tuyết P (sau khi đã có quyết định thu hồi). Phù hợp với lời trình bày của ông Trần Văn C về nguồn gốc phần diện tích 737,3m² nằm trong diện tích 6.000m² mà bà Mai Thị T1 đã chuyển nhượng bằng giấy tay ngày 10/6/2005 cho cha mẹ ông là Đ, bà Phước; Mặc dù, năm 2004 Ủy ban nhân dân huyện P đã ra quyết định thu hồi đất của bà T1, nhưng thực tế bà T1 vẫn đang quản lý sử dụng đất.
[3] Từ các tài liệu chứng cứ trên có cơ sở xác định phần diện tích đất mà gia đình ông C đang quản lý sử dụng (do nhận chuyển nhượng từ bà T1 năm 2005) đã bị Nhà nước thu hồi từ năm 2004. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 thì ông C bị xử phạt do có hành vi: Chiếm đất nông nghiệp (loại đất rừng đặc dụng), diện tích là 737,3m²; Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ông Trần Văn C khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại diện tích 737,3m² đất đã chiếm tại tiểu khu F (75 cũ) rừng đặc dụng, ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho Vườn quốc gia P là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Ông C cho rằng ngày 07/01/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đã ra Quyết định số 17/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính ông do có hành vi chiếm đất đối với diện tích 1.854m². Trên thực tế thì tại vị trí ông C bị xử phạt ông C còn một phần diện tích liền kề diện tích đất ông bị xử phạt. Tổng diện tích ông C đang sử dụng là 2.091,6m². Trong diện tích đất 737,3m², ông C bị xử phạt theo Quyết định 2814/QĐ-XPHC thì có một phần nằm trong diện tích 1.854m² đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xử phạt tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 07/01/2022. Tuy nhiên, tại văn bản số 769/UBND-NCPC ngày 23/8/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P nêu: Ông C không thực hiện theo nội dung của Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 07/01/2022 mà tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà trên phần móng đã bị xử phạt, diện tích 737,3m² chính là diện tích phần nhà mà ông C đã xây dựng thêm, ngoài diện tích đã bị xử phạt theo Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 07/01/2022. Do đó, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận lời trình bày của ông C để cho rằng Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đã xử phạt 02 lần về cùng 01 hành vi vi phạm đối với ông Cầu 1 chưa đủ căn cứ.
Theo nội dung 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 thì ông C đã có hành vi lấn chiếm đất của Vườn quốc gia P. Quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện cũng trình bày phần diện tích 737,3m² mà ông C đang sử dụng nằm trong ranh của Vườn quốc gia P. Do đó, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông C có liên quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của Vườn quốc gia P, nhưng bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Vườn quốc gia P vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 3 Luật tố tụng hành chính là xác định không đầy đủ đương sự trong vụ án. Tuy nhiên, như phân tích trên thì yêu cầu khởi kiện của ông Cầu 1 không có cơ sở nên không cần thiết phải hủy án mà Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ toàn diện tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên. Lập luận này cũng là cơ sở để không chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[6] Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Trần Văn C phải chịu; Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu.
[7] Án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên người có kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính,
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P; Sửa bản án hành chính sơ thẩm số 124/2023/HC-ST ngày 09/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang;
Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 181/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C về việc: Hủy Quyết định số 2814/QĐ-XPHC ngày 07/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn C.
- Án phí hành chính sơ thẩm:
- Ông Trần Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng phí theo Biên lai thu tiền số 0009895 ngày 01/7/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu. Hoàn trả cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003341 ngày 09/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Phan Nhựt Bình |
Bản án số 695/2024/HC-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Số bản án: 695/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM
