|
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 694/2025/HS-PT
Ngày 30/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Phạm Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Loan - Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 356/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 213/2025/HSST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1986, tại tỉnh Nghệ An; Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 03 tháng 08 năm 2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nơi đăng ký thường trú: Xóm H, xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: 74/13, Tổ A khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn V, sinh năm 1948 (đã chết). Họ tên mẹ: Dương Thị B, sinh năm 1955; Gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; có vợ tên: Đặng Thị N, sinh năm 1987 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 13/4/2025, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 2002/LTG-CSHS ngày 22/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Đ (có mặt);
- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Ông Bùi Hiền Đ, Luật sư thuộc Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 12/4/2025, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60H-017.57 đến trạm trộn bê tông Sonadezi An B1, địa chỉ: đường số A, Khu Công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) để đổ đá xây dựng. Sau khi đổ đá xong, H điều khiển xe tải vào bãi để xe của trạm trộn trên để sửa xe. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông Trần Ngọc T, sinh năm 1979, thường trú tại A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai) điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60H-114.14 đi đến trạm trộn bê tông để đỗ xe thì thấy xe ô tô tải của H đậu không đúng thứ tự nên đã dùng điện thoại quay clip lại gửi lên nhóm zalo của Công ty TNHH H2 có tên “tài xế Hiếu P” và phản ánh tài xế ô tô tải ben biển số 60H-017.57 đậu xe không có ý thức. Sau khi xem đoạn clip trên, Nguyễn Văn H bực tức nên đi đến ca bin xe ô tô 60H-017.57 của mình lấy 01 ống tuýp bằng kim loại, hình tròn, dài 92cm đi đến trước mặt ông T đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu ông T, làm ông T té ngã xuống đất bất tỉnh. Thấy vậy, H đi cất hung khí vào ca bin xe ô tô tải ben biển số 60H-017.57 rồi cùng những người có mặt tại đây đưa ông T đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, do vết thương quá nặng nên ông T được chuyển đến Bệnh viện C1 - Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị.
Đến ngày 13/4/2025, H đến Công an Khu Công nghiệp B2 đầu thú. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án: 01 ống tuýp sắt phi 21, dài 92cm (đoạn ống sắt rỗng có đường kính 02cm) là hung khí Nguyễn Văn H sử dụng gây án; 01 USB ghi nhận nội dung, diễn biến vụ án (lưu hồ sơ vụ án).
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0557.02/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích của ông Trần Ngọc T tại thời điểm giám định như sau:
- Phần sẹo vùng trán ngoài chân tóc kích thước trung bình.
- Phần sẹo vùng trán trong chân tóc kích thước trung bình.
- Sẹo mổ sọ não bán cầu trái kích thước trung bình.
- Sẹo mổ dẫn lưu vùng đỉnh kích thước nhỏ.
- Sẹo mặt lưng ngón IV bàn tay phải kích thước nhỏ.
- Sẹo mặt lưng ngón V bàn tay phải kích thước nhỏ.
- Sẹo ngón V bàn tay trái kích thước nhỏ.
- Sẹo ngón V bàn tay trái kích thước nhỏ.
- Khuyết sọ vùng đỉnh trái kích thước 6,5x6,5cm; đáy phập phồng.
- Nứt sọ thái dương đỉnh trái dài 7,7cm; điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng.
- Tổn thương não đỉnh trái kích thước 2,4x4,7cm.
- Xuất huyết dưới nhện đã điều trị hiện không còn hình ảnh xuất huyết.
- Tụ máu dưới màng cứng đã điều trị hiện không còn hình ảnh máu tụ.
- Tụ máu ngoài màng cứng đã điều trị hiện không còn hình ảnh máu tụ.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Ngọc T tại thời điểm giám định là 70% (Bảy mươi phần trăm).
Vật gây thương tích: Vật tày hoặc vật tày có cạnh.
Tại Kết luận giám định cơ chế tổn thương cơ thể trên người sống số 0599.02/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 15/7/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với các thương tích trên người ông Trần Ngọc T như sau:
- Vết thương giữa trán khoảng 10cm, tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng, đỉnh thái dương trái, dập não đỉnh trái, xuất huyết dưới nhện đỉnh, thái dương trái, gãy lún sọ đỉnh trái, nứt sọ thái dương trái. Tổn thương này do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động vào vùng trán đỉnh lệch trái với lực rất mạnh theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới gây ra.
- Sây sát da thân mình ngực phải đã khỏi không để lại dấu vết. Tổn thương này do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động vào vùng thân mình ngực phải với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau gây ra.
- Sây sát da tay phải để lại: Sẹo mặt lưng (mặt mu) ngón IV bàn tay phải kích thước 0,6x0,3cm và sẹo mặt lưng (mặt mu) ngón V bàn tay phải kích thước 0,5x0,2cm. Tổn thương này do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động vào mặt lưng (mặt mu) ngón IV, V bàn tay phải với vừa đủ và hướng phụ thuộc vào tư thế bàn tay khi bị tác động gây ra.
- Sây sát da tay trái hiện để lại hai sẹo mặt lưng đốt 1 ngón V và bàn tay trái kích thước 0,3x0,2cm và 0,2x0,2cm. Tổn thương này do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động vào mặt lưng đốt 1 ngón V bàn tay trái với lực vừa đủ và hướng phụ thuộc vào tư thế bàn tay khi bị tác động gây ra.
- Căn cứ thời gian sau đả thương, các tổn thương của nạn nhân, diễn biến lâm sàng và điều trị tại các cơ sở y tế. Trung tâm P xác định các tổn thương của nạn nhân Trần Ngọc T thuộc loại cấp cứu trì hoãn, ngay lập tức sẽ không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân nếu không được cấp cứu kịp thời. Tuy nhiên nếu nạn nhân Trần Ngọc T không được phẫu thuật sẽ ảnh hưởng đến tính mạng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Trần Ngọc T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường số tiền là 400.000.000 đồng, bao gồm chi phí khám chữa bệnh, chi phí đi lại, thu nhập thực tế bị mất và tổn thất về mặt tinh thần. Bà Đặng Thị N là vợ Nguyễn Văn H đã bồi thường cho ông Trần Ngọc T số tiền 67.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 213/2025/HSST ngày 08/9/2025 và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 329/2025/TB-TA ngày 16/10/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 57, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 02/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về bồi thường, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17/9/2025, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H xin giảm nhẹ hình phạt: Trong quá trình điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo khai toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm xử bị cáo 12 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi xử sơ thẩm, bị cáo giao nộp tình tiết mới, giấy xác nhận nhận tiền, gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị hại, bị hại xin bãi nại và giảm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, lao động chính trong gia đình, bố mẹ già, con nhỏ, gia đình khó khăn có sự xác nhận của chính quyền địa phương, gia đình có công Cách mạng. Bị cáo phạm tội chưa đạt nên đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, sửa án sơ thẩm, xử bị cáo mức án từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”.
Luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Về tội danh thì Luật sư thống nhất như án sơ thẩm về tội “Giết người” chưa đạt. Căn cứ mức độ quyết liệt của hành vi, bị cáo không tiếp tục tấn công. Mức án 12 năm tù là thấp của khung hình phạt. Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có 03 con nhỏ, cha mẹ có công Cách mạng, gia đình bị cáo bồi thường toàn bộ yêu cầu của bị hại, được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, đồng ý ý kiến như đại diện Viện Công tố đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày: Thống nhất với ý kiến của Luật sư.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày: Bị cáo nhận sai, xin lỗi bị hại. Mong Hội đồng xét xử xem xét lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo. Bị cáo cải tạo tốt về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.
Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 12/4/2025, tại bãi đậu xe của trạm trộn bê tông Sonadezi An B1, địa chỉ: Đường số A, Khu Công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) do bực tức vì bị ông Trần Ngọc T dùng điện thoại quay clip hình ảnh xe ô tô do Nguyễn Văn H điều khiển đậu không đúng quy định để gửi lên nhóm zalo của Công ty TNHH H2 phản ánh Nguyễn Văn H đậu xe ô tô tải ben biển số 60H-017.57 không có ý thức, nên H đi đến ca bin xe ô tô 60H-017.57 của mình lấy 01 ống tuýp bằng kim loại phi 21, hình tròn, dài 92cm đi đến trước mặt ông T đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu ông T gây nứt sọ thái dương đỉnh trái dài 7,7cm; khuyết sọ vùng đỉnh trái kích thước 6,5x6,5cm; đáy phập phồng; tổn thương não đỉnh trái kích thước 2,4x4,7cm; xuất huyết dưới nhện với tổng tỷ lệ thương tích 70% (Bảy mươi phần trăm).
Nguyễn Văn H dùng ống tuýp sắt là hung khí nguy hiểm đánh 01 cái với lực mạnh từ trên xuống vào đỉnh đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Việc bị hại Trần Ngọc T không chết là do được điều trị, phẫu thuật kịp thời.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[3.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3.2] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ, đe doạ đến tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong Nhân dân.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường 267.000.000 đồng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có ba con còn nhỏ, có cha mẹ có công với Cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt 12 năm tù, Toà án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp đơn xin bãi nại của bị hại Trần Ngọc T và vợ là Trần Thị Mỹ H1, giấy xác nhận nhận tiền của gia đình bị hại, xin giảm hình phạt và khoan hồng cho bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và người bào chữa cho bị cáo tham gia phiên toà đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân số 81/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 85/2025/UBTV QH15 phê chuẩn đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về việc thành lập các Toà Phúc thẩm, Cục, Vụ và tương đương, Cơ quan báo chí của Toà án nhân dân tối cao;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 213/2025/HSST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2025.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 213/2025/HSST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Đinh Ngọc Thu Hương |
Bản án số 694/2025/HS-PT ngày 30/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người
- Số bản án: 694/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án hình sự sơ thẩm
