Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 694/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025.

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Văn Dương.

2/ Ông Lê Văn Rồi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có: Bà Nguyễn Ngọc D – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1336/2024/TLST-HN ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 290B/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1978; (có mặt)

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 20/07/2021.

Địa chỉ: Số D, đường D, tổ 1, ấp E, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lâm Tấn P, sinh năm 1975; (vắng mặt)

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 29/12/2022.

Địa chỉ: Số D, đường D, tổ 1, ấp E, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày:

Bà và ông Lâm Tấn P là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 116, quyển số 01/04 ngày 14/12/2004. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau làm việc để phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, thời gian gần đây vợ chồng bà liên tiếp xảy ra những bất đồng trong cuộc sống, liên tục xảy ra cải vả. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân hiện tại không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lâm Tấn P.
  2. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông Lâm Tấn P có 02 con chung Lâm Chí K, sinh ngày 21/6/2005 và Lâm Gia H, sinh ngày 19/8/2015. Hiện tại cháu K đã trưởng thành và có thể tự chăm lo cho cuộc sống của mình. Bà có nguyện vọng sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung: Bà và ông Lâm Tấn P tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Nợ chung: Bà và ông Lâm Tấn P không có nợ chung.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao: khai sinh con + căn cước công dân.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, không thay đổi hay bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:

Về Tố tụng: Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị A được ly hôn với ông Lâm Tấn P; Con chung: bà A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Lâm Gia H, sinh ngày 19/8/2015; Tài sản chung: tự thỏa thuận; Nợ chung: không có; Về án phí bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông P vẫn không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

2

[2] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A và ông Lâm Tấn P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 116, quyển số 01/04, ngày 14/12/2004 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà A xin ly hôn với ông P là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà A thì mâu thuẩn giữa bà với ông P là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng trong cuộc sống, liên tục xảy ra cải vả. Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà A và ông P không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 02 con chung Lâm Chí K, sinh ngày 21/6/2005 (đã trưởng thành) và Lâm Gia H, sinh ngày 19/8/2015. Bà A yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung là trẻ Lâm Gia H. Hiện trẻ H đang ở với bà A và Trẻ H1 cũng có lời khai thể hiện nguyện vọng muốn ở với mẹ, nếu ba mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung là trẻ Hân cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà A không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ dân sự chung: Bà A xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có cơ sở nên chấp nhận.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
  • - Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T;

Tuyên xử:

3

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh .

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A được ly hôn với ông Lâm Tấn P.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số 116, quyển số 01/04, ngày 14/12/2004 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà A và ông P không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: có 02 con chung Lâm Chí K, sinh ngày 21/6/2005 (đã trưởng thành) và Lâm Gia H, sinh ngày 19/8/2015. Bà A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là trẻ Lâm Gia H. Ghi nhận sự tự nguyện của bà A là không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
  4. Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu ông P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông P.

  5. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Nghĩa vụ dân sự chung: không có.
  7. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thị A phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016699 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C; Bà A1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. C;
  • - Chi cục THADS H. C;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (12b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 694/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 694/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger