Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 694/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-11-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Như Thủy;
  2. Ông Nguyễn Đình Rành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú - Kiểm sát viên

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 429/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 633/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 696/2024/QÐST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Ái T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Căn hộ H Sky Garden R, phường T, Quận G, TP . (Có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Căn hộ H Sky Garden R, phường T, Quận G, TP .; Tạm trú: Số A đường F, phường T, Quận G, TP . (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện ngày 31/5/2024, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Ái T xác định yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà và ông Phan Tấn Đ qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào năm 2019 (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 17/6/2019 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp).

Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng vài tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chồng bà có tính ghen tuông và luôn nghi ngờ bà, ngay cả khi kiểm soát 24/24 các hoạt động của bà từ công việc đến các mối liên hệ (kể cả email cá nhân của bà và điện thoại). Bà đã nộp đơn ly hôn với ông Đ vào đầu tháng 02 năm 2022 và được tòa hòa giải nên sau khi cân nhắc hy vọng chăm sóc con tốt hơn, bà đã yêu cầu rút lại đơn ly hôn (Theo Quyết định đình chỉ số 278/2022/QÐST- HNGD ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7).

Tuy nhiên, sau gần hai năm tiếp tục sống chung, bà nhận ra rằng chồng bà không thay đổi. Không chỉ khi vợ chồng có chuyện gây gỗ mà bất cứ lúc nào cảm thấy không hài lòng về bất cứ chuyện gì thì chồng bà cũng có thể hành xử bạo lực hoặc dùng những lời lẽ nhục mạ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà và gia đình bà. Hiện nay, bà đang vừa đi làm vừa nuôi con chung và chồng bà chỉ đóng góp một phần chi phí cho con đi học từ tháng 6 năm 2023. Bản thân bà luôn nỗ lực chịu đựng những thói hư tật xấu của chồng (bạo lực, ghen tuông hoang tưởng và ích kỷ) để chăm sóc con bị bệnh. Mục tiêu chính của bà là chữa bệnh và nuôi dạy con nên người nên bà cố gắng hạn chế tối đa những mâu thuẫn gây tranh cãi trong gia đình hoặc những phát ngôn gây bất hòa giữa hai vợ chồng. Trong thời gian qua, do chồng làm tự do nên bà phải nhờ chồng giúp đưa đón con đi học (buổi chiều đón về nhà tắm và cho ăn phần cơm tối mà bà đã chuẩn bị). Tuy nhiên cách đây gần hai tháng, bà đã thu xếp công việc và chủ động đưa đón con đi học để không làm phiền đến chồng. Thế nhưng sự cố gắng của bà vẫn không bao giờ đủ với con người như chồng mình. Chồng bà chỉ biết bản thân mình là quan trọng hơn cả. Ông cho rằng công việc của mình quan trọng hơn và luôn miệng cho rằng mình làm tất cả vì vợ con nên bắt buộc vợ phải suy nghĩ và hành động như bản thân mình. Trong thời gian sống cùng, chồng bà rất nhiều lần hành hung đánh đập hay xúc phạm tôi (nặng nhất là lần phải đi cấp cứu do bị phù nề mặt). Con bà thì đã gần 04 tuổi mà chưa nói được do bị Rối loạn phổ tự kỷ. Chồng bà tự cho mình quyền tự do giao du trong các mối quan hệ và công việc của mình trong khi ngược lại muốn kiểm soát tất cả với vợ. Mặc dù ông bà đã tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả. Ông bà đã ly thân từ tháng 4/2024 đến nay.

Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Tấn Đ.
  • Về con chung: Bà xác nhận bà và ông Đ có 01 (một) con chung, họ và tên là Phan Minh Đ1 (N), sinh ngày 05/9/2020.

Sau khi ly hôn, bà đề nghị là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Bà yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

  • Về tài sản chung: Bà xác nhận không có.
  • Về nợ chung: Bà xác nhận không có.

Bá Ái T cam kết việc ly hôn của bà không nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý nào và chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7.

* Tại bản tự khai ngày 04/9/2024 và biên bản hòa giải, bị đơn ông Phan Tấn Đ trình bày:

Ông xác nhận quá trình tiến tới hôn nhân như bà Ái T trình bày là đúng. Tuy nhiên, đối với những mâu thuẫn mà bà T trình bày như trên ông hoàn toàn không đồng ý.

Theo ông, nguyên nhân chính có thể xuất phát từ lý do vào ngày 29/4/2024 khi ông có thắp nhang trong nhà để cúng bái thì bà T về và nói ông là khi cúng nên đóng cửa lại chứ để người khác nhìn thấy thì bà không đồng ý nhưng ông không đồng ý vì theo ông khói nhang không tốt cho sức khỏe nên cần phải mở cửa, sự việc đó dẫn đến vợ chồng ông cự cãi to tiếng với nhau, sợ làm ảnh hưởng đến con nên ông im lặng rời khỏi nhà để đợi khi vợ ông bình tĩnh mới quay về. Khoảng 10 (Mười) ngày sau thì ông có đến trường con ông đang học để đóng tiền học và thăm con và xem vợ ông hết giận chưa rồi quay về nhưng vợ ông vẫn còn giận nên đến hôm nay ông vẫn chưa về được nhà.

Đối với các nguyên nhân mâu thuẫn mà vợ ông trình bày, bao gồm không tin tưởng trong hôn nhân, bạo lực gia đình và không có trách nhiệm nghĩa vụ trong việc chăm sóc con.

  • Về việc không tin tưởng trong hôn nhân: là không có cơ sở vì trong quá trình chung sống bà T đều biết rõ ông đi đâu, với ai và làm gì thể hiện qua tin nhắn, cuộc gọi điện
  • Về bạo lực gia đình: là không đúng vì sự việc dẫn đến bà T nộp đơn ly hôn là tranh cãi ngày 29/4/2024, từ đó đến nay ông chưa từng bạo lực tinh thần và thể xác đối với bà T
  • Về không có trách nhiệm nghĩa vụ trong việc chăm sóc con: là không đúng vì trước ngày 29/4/2024 ông là người đưa đón con đi học, cho con ăn uống hằng ngày và hiện nay ông vẫn đóng học phí hằng tháng cho con

Do vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn mà bà T đưa ra là không chính xác, giữa ông và bà không có mâu thuẫn gì trầm trọng, chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong gia đình.

  • Về quan hệ hôn nhân: Ông không đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T, ông yêu cầu trở về đoàn tụ.
  • Về con chung: Ông xác nhận ông bà có 01 (một) con chung, họ và tên là Phan Minh Đ1 (N), sinh ngày 05/9/2020.

Trường hợp ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

  • Về tài sản chung: Ông xác nhận không có.
  • Về nợ chung: Ông xác nhận không có.

Tuy nhiên, sau khi bị đơn trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tham gia phiên hòa giải vào ngày 04/9/2024, bị đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 16/9/2024. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 633/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 696/2024/QÐST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

1. Về thủ tục tố tụng:

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn: Thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn: Vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

2. Về nội dung:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà Ái T và ông Phan Tấn Đ kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn. (Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 17/6/2019 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp) là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà T là do ông Đ có tính ghen tuông, luôn kiểm soát các hoạt động của bà, sống ích kỷ, không có trách nhiệm trong việc chăm sóc con. Ông Đ còn có hành vi bạo lực hoặc dùng những lời lẽ nhục mạ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà và gia đình bà. Mặc dù đã tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả, cả hai ly thân từ tháng 4/2024 đến nay. Còn theo ông Đ thì những nguyên nhân mâu thuẫn mà bà T đưa ra là không chính xác, giữa ông và bà T không có mâu thuẫn trầm trọng, chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong gia đình. Nay, bà T yêu cầu ly hôn với ông, ông không đồng ý mà muốn trở về đoàn tụ.

Nhận thấy: Hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, cả hai cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc. Hôn nhân phải có sự yêu thương chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau, tuy nhiên, căn cứ vào lời trình bày của các bên thì nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông Đ đã không còn hạnh phúc, năm 2022, bà T cũng đã nộp đơn ly hôn với ông Đ và được Tòa án nhân dân thụ lý, sau đó, bà T rút đơn khởi kiện để cả hai cùng nhau khắc phục nhưng từ đó đến nay, mâu thuẫn của cả hai vẫn chưa được giải quyết, việc tiếp tục chung sống chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp luật mà không đem lại hạnh phúc đích thực cho nhau, do đó có cơ sở để cho rằng tình trạng hôn nhân của các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của bà T là có cơ sở để chấp nhận.

  • Về con chung: Ông bà xác nhận có 01 (một) con chung, họ và tên là Phan Minh Đ1 (N), sinh ngày 05/9/2020.

Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng

Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ trình bày trường hợp phải ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con 10.000.000 đồng/ tháng

Tại phiên tòa hôm nay, ông Đ vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, nhằm đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý cũng như quyền lợi về mọi mặt cho trẻ, việc để bà T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai trẻ, ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung 10.000.000 đồng/tháng là có cơ sở chấp nhận.

  • Về tài sản chung và nợ chung: cả hai xác nhận không có nên không xét

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Với các chứng cứ có trong hồ sơ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 17/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Ái T và ông Phan Tấn Đ là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, nay bà T yêu cầu ly hôn là tranh chấp "Ly hôn" thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ trả lời xác minh của Công an phường T, Quận G, TP . thì “Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1985 có đăng ký thường trú tại Căn hộ H Sky Garden R, phường T, Quận G, TP . nhưng không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Hiện tại đương sự Đ đang tạm trú tại địa chỉ số A đường F, phường T, Quận G, TP .” nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Theo địa chỉ trên Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 633/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 696/2024/QÐST- HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình tố tụng, bị đơn không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Bà Ái T và ông Phan Tấn Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 17/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T và ông Đ chung sống với nhau hạnh phúc khoảng vài tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ có tính ghen tuông và luôn nghi ngờ, kiểm soát mọi hoạt động của bà từ công việc đến các mối quan hệ. Tháng 02 năm 2022 bà đã từng nộp đơn ly hôn, tuy nhiên do ông Đ có thiện chí hàn gắn, cam kết vợ chồng và bà cùng muốn con cái có đầy đủ cha mẹ, có thể chăm sóc con tốt hơn nên bà đã yêu cầu rút lại đơn ly hôn theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 278/2022/QĐST- HNGĐ ngày 17/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7. Tuy nhiên, sau gần hai năm tiếp tục sống chung, bà nhận ra rằng chồng bà vẫn không thay đổi, cụ thể: bất cứ lúc nào ông Đ cảm thấy không hài lòng về bất cứ chuyện gì thì ông cũng có thể hành xử bạo lực hoặc dùng những lời lẽ nhục mạ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà và gia đình bà. Do con của ông bà mắc chứng “Rối loạn phổ tự kỷ” nên bà luôn nhẫn nhịn chịu đựng để chăm sóc con bị bệnh vì mục đích chính của bà là chữa bệnh và nuôi dạy con nên người nên bà cố gắng hạn chế tối đa những mâu thuẫn gây tranh cãi trong gia đình hoặc những phát ngôn gây bất hòa giữa hai vợ chồng. Thế nhưng sự cố gắng của bà là vô ích vì ông Đ chỉ biết đến bản thân mình. Ông Đ cho rằng công việc của mình quan trọng hơn và luôn miệng cho rằng mình làm tất cả vì vợ con nên bắt buộc bà phải suy nghĩ và hành động như ông. Ngoài ra, trong thời gian sống chung, ông Đ rất nhiều lần hành hung đánh đập hay xúc phạm bà, nặng nhất là lần phải đi cấp cứu do bị phù nề mặt. Bà cảm thấy giữa ông bà không còn có sự quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau nữa. Ông bà đã ly thân từ tháng 4 năm 2024 đến nay, mạnh ai người đó sống, không còn có sự trao đổi, chia sẻ với nhau nên mong muốn của bà là được ly hôn với ông Đ.

Về phía ông Đ cho rằng ông và bà T không có mâu thuẫn gì trầm trọng, ông vẫn làm tròn trách nhiệm làm chồng, làm cha. Theo ông, nguyên nhân chính bà T yêu cầu ly hôn là vào ngày 29/4/2024 khi ông có thắp nhang trong nhà để cúng bái thì bà T về và nói ông là khi cúng nên đóng cửa lại chứ để người khác nhìn thấy thì bà không đồng ý nhưng ông không đồng ý vì theo ông khói nhang không tốt cho sức khỏe nên cần phải mở cửa, sự việc đó dẫn đến vợ chồng ông cự cãi to tiếng với nhau, sợ làm ảnh hưởng đến con nên ông im lặng rời khỏi nhà để đợi khi vợ ông bình tĩnh mới quay về. Khoảng 10 (Mười) ngày sau thì ông có đến trường con ông đang học để đóng tiền học và thăm con và xem vợ ông hết giận chưa rồi quay về nhưng vợ ông vẫn còn giận nên đến hôm nay ông vẫn chưa về được nhà.

Đối với các nguyên nhân mâu thuẫn mà bà T trình bày, bao gồm không tin tưởng trong hôn nhân, bạo lực gia đình và không có trách nhiệm nghĩa vụ trong việc chăm sóc con. Tất cả đều không đúng và không có cơ sở, trong quá trình chung sống bà T đều biết rõ ông đi đâu, với ai và làm gì và trước ngày 29/4/2024 ông là người đưa đón con đi học, cho con ăn uống hằng ngày và hiện nay ông vẫn đóng học phí hằng tháng cho con.

Ông xác nhận vẫn còn tình cảm với bà T. Ông đã cố gắng hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã có Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ đối với ông Đ để cung cấp chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tuy nhiên phía ông Đ không cung cấp tài liệu chứng cứ nào thể hiện cho lời trình bày của mình. Mặt khác, ông Đ đã trình bày ý kiến và có nguyện vọng cần thêm thời gian để vợ chồng ngồi lại nói chuyện với nhau để hàn gắn mối quan hệ, Tòa đã tạo điều kiện để cho ông Đ có cơ hội trình bày nhưng ông Đ lại không nắm bắt, tìm cách tháo gỡ mâu thuẫn vợ chồng, điều đó thể hiện sự thiếu trách nhiệm với chính quan hệ hôn nhân của mình. Chính những hành động của ông Đ đã làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng và không thể hàn gắn.

Từ những phân tích và căn cứ nêu trên, xét thấy, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp luật, bởi hôn nhân thực tế không còn tồn tại, không đem lại hạnh phúc đích thực cho nhau nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

[5] Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 161/2020 do Ủy ban Nhân dân phường T, Quận G, Tp. cấp ngày 25/9/2020 đã có đủ cơ sở để xác định bà T và ông Đ có 01 (một) con chung, họ và tên là Phan Minh Đ1 (N), sinh ngày 05/9/2020.

Xét, bà T yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ cũng xác nhận trong trường hợp phải ly hôn thì ông cũng đồng ý giao con chung cho bà T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của bà T là có cơ sở để chấp nhận, Hội đồng xét xử xét thấy giao trẻ Phan Minh Đ1 cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

Thi hành vào ngày 01 (dương lịch) hàng tháng. Bắt đầu thi hành vào ngày 01/12/2024. cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

[6] Về tài sản chung: Các đương sự xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Các đương sự xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng. Ông Đ phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Bà Ái T và ông Phan Tấn Đ có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Xử:

1. Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn ông Phan Tấn Đ.

2. Về nội dung:

2.1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Ái T về việc ly hôn với bị đơn ông Phan Tấn Đ, xử cho bà T được ly hôn với ông Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 55, đăng ký ngày 17/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý).

2.2. Về quan hệ con chung: Xác nhận bà Ái T và ông Phan Tấn Đ có 01 (một) con chung, họ và tên là Phan Minh Đ1 (N), sinh ngày 05/9/2020.

Giao trẻ Phan Minh Đ1 cho bà Ái T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Tấn Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

Thi hành vào ngày 01 (dương lịch) hàng tháng. Bắt đầu thi hành vào ngày 01/12/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Ông Phan Tấn Đ có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Trong trường hợp ông Phan Tấn Đ chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông Phan Tấn Đ còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.3. Về tài sản chung: Không có.

2.4. Về nợ chung: Không có.

2.5. Về án phí: Bà Ái T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0019537 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy, bà T đã nộp đủ.

Ông Phan Tấn Đ phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Cơ quan thực hiện việc
  • đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ (Tk Sang).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 694/2024/HNGĐ-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 694/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ÁI T- PHAN TẤN Đ - LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger