TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 693/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- 2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 164/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm: 1994 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: thôn Đắc Châu 1, xã Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Chỗ ở: 10/7C, tổ 33, ấp Thới Tứ 1, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Lê Đình T, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: thôn 8, xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Chỗ ở: số 51, tổ 68, ấp Trung Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 11/02/2025 và theo bản nội dung bản tự khai thì lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy V như sau:
Vào năm 2014, bà V và ông Lê Đình T quen biết, yêu thương nhau, chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định ngày 05/5/2014 (số 26/2014, quyển số 01/2013). Khi kết hôn gia đình hai bên không có ai ngăn cản, cấm đoán, không bên nào cưỡng ép kết hôn, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017, bà V và ông T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: 02 cháu tên Lê Hà T1, sinh ngày 31/5/2015 và Lê Hoài T2, sinh ngày 07/10/2019.
Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu T1 và T2. Bà V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: không có.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn là ông Lê Đình T như sau:
Về lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thúy V về thời gian kết hôn, địa điểm và quá trình chung sống và con chung là đúng. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, ông T trình bày là do bất đồng về lối sống và công việc. Nay, bà V yêu cầu ly hôn, ông T đồng ý ly hôn.
Về con chung: 02 cháu tên Lê Hà T1, sinh ngày 31/5/2015 và Lê Hoài T2, sinh ngày 07/10/2019.
Ông T yêu cầu được nuôi cháu T2, không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con; ông T đồng ý giao cháu T1 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn là ông T đều vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn là bà V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà V theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: về thẩm quyền thụ lý vụ án, về xác định tư cách tố tụng, về thu thập chứng cứ, về thủ tục hòa giải, về thời hạn chuẩn bị xét xử, về thời gian gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, về thủ tục cấp tống đạt cho đương sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thúy V và ông Lê Đình T là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có chỗ ở tại 51, tổ F, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà V và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định ngày 05/5/2014 (số 26/2014, quyển số 01/2013) nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà V và ông T có thời gian sống chung từ năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017, bà V và ông T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc. Tại bản tự khai ngày 24/3/2025, ông T cũng thể hiện đồng ý ly hôn với bà V.
Hội đồng xét xử xét thấy: đời sống chung vợ chồng của bà V và ông T đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Vì vậy, việc bà V yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về nuôi con chung: 02 cháu tên Lê Hà T1, sinh ngày 31/5/2015 và Lê Hoài T2, sinh ngày 07/10/2019.
Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bản tự khai ngày 21/3/2025, cháu T1 có nguyện vọng sống chung với bà V; hiện cháu T1 cũng đang sống với bà V, không nên thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu T1. Bên cạnh đó, ông T cũng đồng ý giao cháu T1 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của bà V được trực tiếp nuôi cháu T1 là có cơ sở chấp nhận.
Bà V và ông T cùng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2; Hội đồng xét xử xét thấy cháu T2 là con gái, hiện đang sống với bà V và chị gái, không nên thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu T2. Ông T tuy có yêu cầu nuôi con nhưng sau đó không đến Tòa để chứng minh thu nhập cũng như điều kiện nuôi con. Vì vậy, yêu cầu của bà V được trực tiếp nuôi cháu T2 là có cơ sở chấp nhận.
Về đóng góp nuôi con: Bà V không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 21; 28; 35; 39; 48; 63; 184; 186; 188; 203; 205; 227; 228; 235; 244; 264; 266; 271 và 273 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào các Điều 8, 9, 10 và 27 cùng các danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy V.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thúy V và ông Lê Đình T.
- Về nuôi con chung: 02 cháu tên Lê Hà T1, sinh ngày 31/5/2015 và Lê Hoài T2, sinh ngày 07/10/2019
Giao 02 con chung tên Lê Hà T1 và Lê Hoài T2 cho bà Nguyễn Thị Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Lê Đình T cho đến khi có yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Thúy V chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thúy V đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0081599 ngày 20/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Nguyễn Thị Thúy V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND TP. HCM;
- - VKSND TP. HCM
- - VKSND H.HM;
- - Chi Cục THADS H.HM;
- - UBND xã Hải Lý, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
- - Các đương sự;
- - Lưu: VP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm |
Bản án số 693/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 693/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
