|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 693/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Võ Văn Tốt
- - Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12 - Tp ..
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12: Bà Võ Thị Kiều- Kiểm sát viên.
Ngày 28/6/2024 tại Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1352/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 465/2024/QĐXX-ST ngày 02/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 676/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Chu Thụy Phương T, sinh năm 1973 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: B H, Tổ C, phường Ô, quận Đ, Thành Phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Hoàng Trọng H, sinh năm 1973 ( Vắng mặt);
Địa chỉ: B B, Khu phố G, phường H, Quận A, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 08/12/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Chu Thụy Phương T trình bày:
Bà Chu Thụy Phương T và ông Hoàng Trọng H đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 61/2020 ngày 01/7/2020.
Sau khi kết hôn bà và ông H sống chung với nhau tại địa chỉ B B, Khu phố G, phường H, Quận A, Tp.HCM, đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không phù hợp quan điểm sống, bất đồng tính cách, từ đó vợ chồng sống lạnh nhạt, không có tình cảm, thường xuyên xảy ra cãi vã.
Mặc dù gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng tầm trọng. Kể từ đầu năm 2021, bà T đã sống ly thân với ông H.
Vì cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Hoàng Trọng H.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
* Bị đơn ông Hoàng Trọng H tại Bản tự khai ngày 07/3/2024 trình bày:
Ông và bà Thủy C sống với nhau vào năm 2020, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 61/2020 ngày 01/7/2020. Sau đó bà T có mượn của ông số tiền 200.000.000đ để làm ăn và hứa sẽ trả lại cho ông, tuy nhiên sau nhiều lần hứa hẹn, bà T vẫn không trả cho ông số tiền nêu trên, nên ông và con của ông không cho bà T ở tại nhà ông nữa. Từ đó đến nay bà T đi đâu, ở đâu ông không biết vì không liên lạc được.
Vì vậy, ông không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà T nếu bà T chưa trả cho ông số tiền 200.000.000đ.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung, nợ chung: không có..
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng dân sự nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về thời hạn giải quyết vụ án thì chưa đảm bảo theo quy định, cần xem xét rút kinh nghiệm. Về việc giải quyết nội dung vụ án, kiểm sát viên nhận thấy tất cả các yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn ông Hoàng Trọng H đang cư ngụ tại Quận A nên căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12.
Bà Chu Thụy Phương T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Hoàng Trọng H vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
2. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Chu Thụy Phương T và ông Hoàng Trọng H đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 61/2020 ngày 01/7/2020. Theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 2014, thì hôn nhân giữa bà T, ông H là đảm bảo giá trị pháp lý.
Nay bà T yêu cầu xin ly hôn với ông H do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn. Khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình: “ Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng...”
Tại Bản tự khai ngày 07/3/2024 của Toà án nhân dân Quận 12, ông Hoàng Trọng H trình bày ông không đồng ý ly hôn với bà T là do bà T còn nợ ông số tiền 200.000.000đ. Điều này chứng tỏ ông H không có mong muốn hàn gắn hôn nhân với bà T, ông không đồng ý ly hôn là do bà T chưa trả tiền cho ông.
Vì vậy, việc bà T nộp đơn đến Tòa án nhân dân Quận 12 xin ly hôn với ông H vì ông cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông H không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được đó là quyền nhân thân chính đáng nên yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Toà án nhân dân Quận 12 đã ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 18/2024/TB-BSCC ngày 07/03/2024, yêu cầu ông Hoàng Trọng H nếu có yêu cầu bà T trả số tiền 200.000.000đ thì ông phải làm đơn nộp cho Toà án và đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định pháp luật để Toà án xem xét yêu cầu của ông. Quyết định nêu trên đã được tống đạt hợp lệ đến ông H. Tuy nhiên, cho đến ngày xét xử hôm nay, ông H vẫn không thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét yêu cầu của ông.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ, bà Chu Thụy Phương T phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số AA/2023/0031451 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Chu Thụy Phương T được ly hôn với ông Hoàng Trọng H.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 61/2020 ngày 01/7/2020 do Ủy ban nhân dân phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội cấp cho bà Chu Thụy Phương T và ông Hoàng Trọng H không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: không có.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ, bà Chu Thụy Phương T phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số AA/2023/0031451 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát trực tiếp cấp trên là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Trí |
Bản án số 693/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 693/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Thụy Phương T-Hoàng Trọng H ly hôn
