Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 693/2024/DS-PT

Ngày: 29-11-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn

Ông Mai Tiến Dũng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 326/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 482/2024/QĐ-PT ngày 28/10/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Như Q, sinh năm 1996; Có mặt.

Nơi thường trú: Ruộng Hời, Bảo V, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên hệ: 17/48 Trần Quang K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; HKTT: Thôn P, xã T,V, Vĩnh Phúc. Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà I, A T, M, quận N, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 04/3/2024. Có mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần T2 (viết tắt là IUC);

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà V, số F N, phường C, quận N, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hoài T – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1985; Địa chỉ liên lạc: Tầng C, tòa nhà V, số F N, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 05/11/2024. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của IUC: Ông Nguyễn Hùng C, sinh năm 1976. Địa chỉ liên hệ: Tầng C, tòa nhà V, số F N, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Nhằm xác lập giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai thuộc Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (“Dự án”) bà Phan Thị Như Q được Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T2 tư vấn cần cọc thiện chí số tiền 200.000.000VNĐ (Hai trăm triệu đồng) và ký kết một số thoả thuận với Chủ đầu tư. Theo đó, ngày 15/03/2022, bà Q đã ký kết Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 với Công ty Cổ phần T2 với nội dung tóm tắt như sau:

“Bà Phan Thị Như Q (sau đây gọi tắt là “Bà Q”) đồng ý cho Công ty Cổ Phần T2 (sau đây gọi tắt là “IUC”) vay một khoản tiền có giá trị là 5.958.919.000 VNĐ.

Lãi suất Khoản Vay hay còn được quy định là Khoản Lãi Vay: 3,5% một năm và cố định trong suốt thời hạn vay. Việc thanh toán khoản lãi vay được thực hiện khi kết thúc thời hạn vay hoặc theo thoả thuận của Các Bên tại từng thời điểm.

Thời hạn vay tính từ ngày Hợp đồng vay được ký kết cho đến hết ngày 31/12/2022. Thời hạn vay có thể được gia hạn theo thoả thuận của Các Bên. Khi hết Thời Hạn Vay theo quy định nếu Bà Q không rút Khoản Vay và IUC có mong muốn tiếp tục vay thì Các Bên đồng ý rằng Thời hạn vay được gia hạn tiếp tục gia hạn vào nhiều lần, mỗi một lần gia hạn là 01 tháng.”

Ngày 15/03/2022, bà Q chuyển khoản tiền cọc trị giá 200.000.000 VNĐ vào tài khoản thụ hưởng của Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T2. Số tiền cọc này theo đó được chuyển đổi thành số tiền bà Q cho IUC vay theo Hợp đồng vay. Ngày 8/4/2022, bà Q chuyển khoản số tiền 772.376.000VNĐ vào tài khoản số 1181686868 tại Ngân hàng V1 Chi nhánh H1 của IUC. Như vậy, tổng khoản vay mà bà Phan Thị Như Q đã cho IUC vay theo Hợp đồng vay là: 972.376.000 VNĐ. Theo đó IUC đã xác nhận việc nhận số tiền 772.376.000VNĐ này từ bà Q tại giấy xác nhận ngày 08/04/2022. Bà Q nhận thức việc chuyển khoản tiền cọc và số tiền 772.376.000VNĐ nêu trên vào tài khoản của IUC nhằm đảm bảo việc ký kết Hợp đồng mua bán nhà ở tại Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bà Phan Thị Như Q thấy Dự án được triển khai chậm trễ, không đúng với tiến độ thoả thuận và nhiều điểm còn vướng mắc nên ngày 30/05/2023, bà Q thông báo qua tin nhắn zalo với nhân viên môi giới của IUC rằng bà Q mong muốn chấm dứt Hợp đồng vay và muốn rút toàn bộ giá trị khoản vay cùng phần lãi suất tương ứng.

Ngày 13/06/2023, nhân viên đại diện IUC là ông Q1 nhắn tin cho bà Q rằng: Nếu bà Q mong muốn rút vốn, thì bà Q sẽ phải chịu mất 7% - 8% trên tổng giá trị Hợp đồng vay, tương ứng với mức phạt tối thiểu mà IUC áp đặt đối với bà sẽ là: 7% x 5.958.919.000 đồng = 417.124.330 đồng. Bên cạnh đó bà Q phải “đợi khi nào công ty cổ phần T2 bán lại được căn đó thì mới hoàn lại tiền được”. Bà Q hoàn toàn không đồng ý với cách giải quyết này của IUC.

Ngày 15/06/2023, IUC ban hành Công văn số 123/2023/IUC/CV-KH thông báo về việc IUC đơn phương chấm dứt Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 kể từ ngày 15 tháng 06 năm 2023. Từ đó đến nay, IUC không trả cho bà Q khoản vay mà bà Q đã giải ngân cho IUC là 972.376.000 VNĐ cùng số lãi vay tương ứng tính đến ngày chính thức chấm dứt là 15/06/2023.

Bà Phan Thị Như Q khởi kiện yêu cầu:

  1. Buộc Công ty Cổ phần T2 thanh toán hoàn lại 100% giá trị khoản vay đã được bà Phan Thị Như Q cho IUC vay theo Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 là 972.376.000VNĐ (Chín trăm bảy mươi hai triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
  2. Bà Phan Thị Như Q yêu cầu IUC thanh toán khoản lãi vay phát sinh (tương đương 3.5%/năm) tính đến ngày 15/01/2024 cho Phan Thị Như Q với giá trị là: 70.000.000VNĐ (Bảy mươi triệu đồng).

Bị đơn Công ty Cổ phần T2 trình bày:

Công ty Cổ phần T2 đã ký Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 ngày 15 tháng 3 năm 2022 với bà Phan thị Như Q. Bà Q đã chuyển 200.000.000 đồng vào ngày 15/3/2022 vào tài khoản thụ hưởng của IUC. Ngày 8/4/2022, bà Q đã chuyển tiếp số tiền 772.376.000 đồng vào tài khoản của IUC. Tổng cộng bà Q đã chuyển 972.376.000 đồng vào tài khoản IUC.

Nay bà Phan Thị Như Q khởi kiện yêu cầu IUC trả lại số tiền trên và lãi suất kèm theo là 3,5%/ năm tính đến ngày 15/1/2024 với số tiền lãi là 70.000.000 đồng thì IUC hiện không đồng ý trả lại cho bà Q các khoản tiền gốc và lãi bà Q yêu cầu.

Ngày 09/5/2024, bà Phan Thị Như Q xin rút yêu cầu IUC thanh toán khoản lãi phát sinh (tương đương 3.5%/năm) tạm tính đến ngày 15/01/2024 là: 70.000.000VNĐ (Bảy mươi triệu đồng).

Quá trình giải quyết vụ án, hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Như Q đối với Công ty Cổ phần T2 về việc Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 ngày 15 tháng 3 năm 2022.
  2. Buộc công ty cổ phần T2 phải thanh toán cho bà Phan Thị Như Q số tiền là 972.376.000 (Chín trăm bảy mươi hai triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.
  3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả tiền lãi vay phát sinh (tương đương 3.5%/năm) của bà Phan Thị Như Q.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo, quyền nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, bị đơn kháng cáo một phần bản án với lý do Bản án của Tòa án nhân dân quận N quyết định buộc Công ty cổ phần T2 phải thanh toán cho bà Phan Thị Như Q số tiền là 972.376.000 đồng là không đúng với nội dung thỏa thuận của các đương sự và không phù hợp với quy định của pháp luật. IUC kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm:

  • Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ thanh toán của Công ty cổ phần T2.
  • Xem xét lại tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn trên cơ sở các thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, để quyết định buộc bà Phan Thị Như Q phải chịu khoản tiền phạt theo thỏa thuận tại hợp đồng vay tài sản, số tiền phạt là : 50% x 972.376.000 đồng = 486.188.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi sáu triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng). Khoản tiền phạt này được bù trừ vào nghĩa vụ thanh toán của Công ty cổ phần T2.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Bị đơn giữ nguyên ý kiến đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Các đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới và không thỏa thuận được với nhau cách giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKSND thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng bị đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần T2 trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ.

Tại phiên tòa, các đương sự đều có mặt theo đúng quy định;

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:

Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện:

Nhằm xác lập giao dịch mua bán nhà ở hình thành trong tương lai thuộc Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (“Dự án”) bà Phan Thị Như Q được Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T2 tư vấn cần cọc thiện chí số tiền 200.000.000 VNĐ (Hai trăm triệu đồng) và ký kết một số thoả thuận với Chủ đầu tư. Theo đó, ngày 15/03/2022, bà Q đã ký kết Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 với Công ty Cổ phần T2 với nội dung tóm tắt như sau:

“Bà Phan Thị Như Q (sau đây gọi tắt là “Bà Q”) đồng ý cho Công ty Cổ Phần T2 (sau đây gọi tắt là “IUC”) vay một khoản tiền có giá trị là 5.958.919.000 VNĐ.

Lãi suất Khoản Vay hay còn được quy định là Khoản Lãi Vay: 3,5% một năm và cố định trong suốt thời hạn vay. Việc thanh toán khoản lãi vay được thực hiện khi kết thúc thời hạn vay hoặc theo thoả thuận của Các Bên tại từng thời điểm.

Thời hạn vay tính từ ngày Hợp đồng vay được ký kết cho đến hết ngày 31/12/2022. Thời hạn vay có thể được gia hạn theo thoả thuận của Các Bên. Khi hết Thời Hạn Vay theo quy định nếu Bà Q không rút Khoản Vay và IUC có mong muốn tiếp tục vay thì Các Bên đồng ý rằng Thời hạn vay được gia hạn tiếp tục gia hạn vào nhiều lần, mỗi một lần gia hạn là 01 tháng.”

Ngày 15/03/2022, bà Q chuyển khoản tiền cọc trị giá 200.000.000VNĐ vào tài khoản thụ hưởng của Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T2. Số tiền cọc này theo đó được chuyển đổi thành số tiền bà Q cho công ty cổ phần T2 vay theo Hợp đồng vay. Ngày 08/4/2022, bà Q chuyển khoản số tiền 772.376.000VNĐ vào tài khoản số 1181686868 tại Ngân hàng V1 Chi nhánh H1 của Công ty cổ phần T2. Như vậy, tổng khoản vay mà bà Phan Thị Như Q đã cho Công ty cổ phần T2 vay theo Hợp đồng vay là: 972.376.000VNĐ. Công ty Cổ phần T2 đã xác nhận việc nhận số tiền trên.

Cùng ngày 08/4/2022, bà Q đăng ký nguyện vọng mua căn hộ LK07- 08 tại Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; cũng cùng ngày bà Q và Công ty cổ phần T2 ký văn bản thoả thuận dùng tiền theo hợp đồng vay để mua căn hộ nói trên, mặt khác các bên đương sự thừa nhận các văn bản như đăng ký nguyện vọng, văn bản thoả thuận đều do IUC soạn sẵn và cung cấp cho bà Q. Như vậy thực chất khoản vay trên nhằm đảm bảo để ký kết Hợp đồng mua bán nhà ở tại Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng do Dự án được triển khai chậm trễ, không đúng với tiến độ thoả thuận và nhiều điểm còn vướng mắc nên ngày 30/05/2023, bà Q đề nghị chấm dứt Hợp đồng vay và muốn rút toàn bộ giá trị khoản vay cùng phần lãi suất tương ứng là có cơ sở chấp nhận.

Xét thấy, như đã phân tích trên khoản tiền bà Q chuyển vào tài khoản của IUC thực chất nhằm để đảm bảo ký kết Hợp đồng mua bán nhà ở tại Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng do Công ty

cổ phần T2 không đảm bảo về mặt tiến độ theo thoả thuận. Nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q và buộc IUC thanh toán hoàn lại 100% giá trị khoản tiền đã được bà Phan Thị Như Q cho IUC vay theo Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 là 972.376.000VNĐ (Chín trăm bảy mươi hai triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) là đúng quy định của pháp luật.

Về kháng cáo của Công ty cổ phần T2:

Mặc dù xác nhận đã nhận số tiền như bà Q trình bày nhưng cho rằng tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn trên cơ sở các thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, để quyết định buộc bà Phan Thị Như Q phải chịu khoản tiền phạt theo thỏa thuận tại hợp đồng vay tài sản, số tiền phạt là: 50% x 972.376.000 đồng = 486.188.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi sáu triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng). Khoản tiền phạt này được bù trừ vào nghĩa vụ thanh toán của IUC và không đồng ý trả 972.376.000 đồng cho bà Q.

Như đã phân tích trên thực chất khoản tiền bà Q chuyển vào tài khoản của IUC thực chất nhằm để ký kết Hợp đồng mua bán nhà ở tại Dự án Khu đô thị B, Khu A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhưng IUC không đảm bảo về mặt tiến độ theo thoả thuận. nên bà Q yêu cầu Công ty cổ phần T2 phải trả lại toàn bộ số tiền 972.376.000 đồng bà Q đã nộp cho công ty là đúng quy định của pháp luật

[2.2] Về yêu cầu trả lãi của bà Q:

Ngày 09/5/2024, bà Phan Thị Như Q rút yêu cầu trả tiền lãi vay phát sinh (tương đương 3.5%/năm) tạm tính đến ngày 15/01/2024 với giá trị là: 70.000.000 (Bảy mươi triệu đồng) nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Từ nhận định trên không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội.

[3] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn là bà Phan Thị Như Q được chấp nhận yêu cầu khởi kiện không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn là IUC phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn là IUC phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 26; khoản 1 Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 148; Điều 217; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Điều, 149,155, 280, 357, 429, 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần T2.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội cụ thể như sau:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Như Q đối với Công ty Cổ phần T2 về việc Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Hợp đồng vay số 66/2022/LK07-08 ngày 15 tháng 3 năm 2022.
    2. Buộc Công ty Cổ phần T2 phải thanh toán cho bà Phan Thị Như Q số tiền là 972.376.000 (Chín trăm bảy mươi hai triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.
    3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả tiền lãi vay phát sinh (tương đương 3.5%/năm) của bà Phan Thị Như Q.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải thi hành, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:

      Bà Phan Thị Như Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.240.000 (Mười sáu triệu hai trăm bốn mươi nghìn) đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009504 ngày 01/04/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận N, Hà Nội.

      Công ty Cổ phần T2 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 41.171.280 (Bốn mươi mốt triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm tám mươi) đồng.

    • - Án phí dân sự phúc thẩm:

      Công ty Cổ phần T2 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009834 ngày 04/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố Hà Nội.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND quận N;
  • - Chi cục THADS N ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 693/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 693/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là bà Phan Thị Như Q và bị đơn là Công ty cổ phần IUC
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger