TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 692/2025/DS-PT Ngày: 19 – 6 – 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Hoàng Minh Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 831/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3897/2025/QĐPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1953; địa chỉ: số H đường P, khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thiện Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Chi nhánh Công ty L5, Đại lộ B, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 09/12/2022); có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 và ông Trần Minh C, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: số H đường P, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lưu Đình N1, sinh năm 1968; địa chỉ cũ: số G đường L, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện nay: số D đường L, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 23/3/2015); có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951; địa chỉ: số D đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.2. Bà Nguyễn Thị Minh N2 (tên gọi khác: Nguyễn Thị N2), sinh năm 1973; địa chỉ: số H đường P, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà N2: Ông Lưu Đình N1, sinh năm 1968; địa chỉ cũ: số G đường L, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện nay: số D đường L, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 20/4/2015); có mặt.
3.3. Ngân hàng TMCP Đ1 (nay là N3 hành TNHH M1); địa chỉ: số G phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thụy Vĩnh K, Ông Huỳnh Phước C1 - có mặt.
3.4. Công ty TNHH MTV T5; địa chỉ: khu phố F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lưu Đình N1, sinh năm 1968; địa chỉ cũ: số G đường L, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện nay: số D đường L, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 26/10/2016); có mặt.
3.5. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: số A đường Q, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
3.6. Bà Dương Ngọc T, sinh năm 1958; địa chỉ: số H đường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vợ ông N1).
Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Nguyễn Thiện Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Chi nhánh Công ty L5, Đại lộ B, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 09/12/2022); có mặt.
3.7. Bà Nguyễn Khánh H1, sinh năm 1980; địa chỉ: số H đường P, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (con ông Nguyễn Văn N); có mặt.
3.8. Ông Trần Nguyễn Nhựt P, sinh năm 1990; địa chỉ: số H đường P, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
3.9. Bà Trần Nguyễn Trúc P1, sinh năm 1985; địa chỉ: số H đường P, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Do có kháng cáo của bị đơn Nguyễn thị H, Trần Minh C, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh N2 và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2015 của ông Nguyễn Văn N (gọi tắt là ông N) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ của ông Nghĩa là ông Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1924, chết năm 2010) và bà Nguyễn Thị Ú kết hôn năm 1950 đến năm 1953 thì ly hôn. Ông L1 và bà Ú có 02 người con chung, gồm: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951 và ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1953.
Khoảng năm 1960, ông L1 chung sống với bà Nguyễn Thị B (chết năm 1985) và có 02 người con chung, gồm: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1973.
Khoảng trước năm 1950, cha của ông N được thừa hưởng của ông bà để lại một phần đất có diện tích 6.763m², thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được Ủy ban nhân dân tỉnh S công nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định giao đất số 1887/QĐ-UB ngày 27/5/1994 cho ông L1. Ông N sống với ông L1 trên phần đất này từ năm 1953. Năm 1978, ông N lấy vợ nên được ông L1 cho một phần đất ở riêng, theo đo đạc thực tế có diện tích là 666,39m², trên đất có căn nhà gỗ cạnh nhà của ông L1. Ngày 03/6/1997, ông L1 làm giấy tương phân cho ông N phần đất mà ông N đang ở có sự chứng kiến của các anh em trong gia đình và chính quyền địa phương; khi địa chính đo đạc thực tế là 666,39m², thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK. Ông N đã xây dựng thêm công trình phụ cùng một số căn nhà trọ cho đến nay.
Năm 2002, sau khi ông L1 bán một phần đất của mình và xây cho ông N 01 căn nhà trên nền căn nhà gỗ mà ông N đang ở. Ngày 19/02/2004, ông L1 lập hợp đồng tặng cho ông N căn nhà trên (diện tích đất ở là 85,93m² theo Hợp đồng tặng cho tài sản số 32 HĐ/CTS tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương), phần đất còn lại ông N đã xây dựng công trình phụ và một số căn nhà trọ có diện tích 666,39m² – 85,93m² = 580,46m², thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông N theo Giấy tương phân ngày 03/6/1997. Nhưng để thuận tiện thì ông N vẫn để cho ông L1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.285m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00147 ngày 26/7/2002 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho ông L1, trong đó có 580,46m² đất là của ông N đang quản lý, sử dụng thực tế theo Giấy tương phân ngày 03/6/1997.
Ngày 11/02/2004, ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị H đã lén lút, giả mạo chữ ký của ông Nguyễn Văn L1 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 1.285m² của ông L1 cho bà Nguyễn Thị H. Ngày 07/4/2004, hộ bà Nguyễn Thị H được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1338/QĐ.UB đối với phần đất diện tích 1.285m². Sau đó, bà H và ông C đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 – Chi nhánh B1 để vay tiền làm ăn, nhưng bị vỡ nợ. Khi Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương tiến hành kê biên tài sản là phần đất trên thì gia đình ông N mới biết sự việc.
Do đó, ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004 giữa cụ Nguyễn Văn L1 với bà Nguyễn Thị H đối với phần đất diện tích 1.285m², thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương vì đã giả mạo chữ ký, không đúng quy định pháp luật; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1338/QĐ.UB ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H đối với phần đất diện tích 1.285m²; yêu cầu ông C và bà H phải trả lại cho ông N phần đất diện tích 580,46m² thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo đo đạc thực tế hiện này là 579,2m²) là phần đất ông L1 đã cho ông N theo tờ tương phân ngày 03/6/1997; yêu cầu chia di sản thừa kế do ông L1 để lại là phần đất có diện tích 1.285m² – 580,46m² = 704,54m² thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T ra làm 04 phần bằng nhau, tương đương mỗi phần diện tích 176,135m² và ông N yêu cầu được nhận bằng hiện vật (bút lục 01-04). Sau khi tiến hành đo đạc thực tế phần đất 1.285m² có diện tích thực tế là 1.559,4m² (bút lục 177), ông N xác định: phần đất ông L1 chết để lại là phần đất còn lại theo đo đạc thực tế có diện tích 980,2m², ông N đồng ý để phần diện tích 112,3m² theo như vị trí đo đạc trên sơ đồ giải quyết tranh chấp để làm lối đi chung vào khu đất, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần lối đi chung này; đồng ý trừ phần diện tích đất gắn liền căn nhà của bà Nguyễn Thị Minh N2 là 95,3m² và phần diện tích đất gắn liền căn nhà của bà Nguyễn Thị H là 131,4m² không yêu cầu chia; phần đất còn lại 641,2m² ông N yêu cầu chia làm 4 phần bằng nhau cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Minh N2 và bà Nguyễn Thị H, ông N yêu cầu được nhận 01 phần đất diện tích 160,3m².
Quá trình giải quyết vụ án, ông N yêu cầu giám định chữ ký của ông L1 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 51/CN ngày 11/02/2004. Theo Kết luận giám định số 1754/GĐ-PC54 ngày 08/10/2015 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận chữ ký mang tên “Nguyễn Văn L1” trong hợp đồng chuyển nhượng so với các mẫu so sánh “không phải do cùng một người ký ra” (bút lục 244).
* Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 18/3/2014, bị đơn bà Nguyễn Thị H (gọi tắt là bà H), ông Trần Minh C (gọi tắt là ông C) trình bày:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004 giữa ông Nguyễn Văn L1 với bà Nguyễn Thị H là thể hiện ý chí của ông L1, có chữ ký của ông L1, bà H, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường P và Ủy ban nhân dân thị xã T trên hợp đồng. Đồng thời, Ủy ban nhân dân thành phố T đã chấp thuận bằng Quyết định số 1338/QĐ.UB ngày 07/4/2004 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1697/QSDĐ ngày 07/4/2004 cho bà H và bà H đã sử dụng ổn định từ đó cho đến nay, có đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước từ năm 2005 đến nay. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1697/QSDĐ ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho gia đình bà Nguyễn Thị H là hoàn toàn hợp pháp, đúng trình tự pháp luật dựa trên sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị H thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004. Diện tích đất 580,46m² thuộc thửa đất số 72, 75, 78 tờ bản đồ số 37 là một phần trong tổng diện tích 1.285m² thuộc thửa đất số 58, 72, 75, 78 (125) tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khu A, phường P đã được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/4/2004 đứng tên bà H, không liên quan gì đến đất của ông N nên việc ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà H, ông C trả đất là không có căn cứ. Phần đất có diện tích 704,54m² là một phần trong tổng diện tích 1.285m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà H, gia đình bà H sử dụng ổn định từ năm 2004, đóng thuế ổn định đến nay. Ông N yêu cầu chia thừa kế không có căn cứ, bà H và ông C không thể chấp nhận (bút lục 32).
* Tại các Bản tự khai ngày 01/4/2015 và 08/4/2015, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà H, ông C trình bày: Cha ruột của bà H là ông Nguyễn Văn L1 sinh năm 1924, chết năm 2010. Ông L1 có 02 người vợ. Người vợ thứ nhất có tên Nguyễn Thị Ú, có 02 người con là Nguyễn Văn N sinh năm 1953 và Nguyễn Thị L sinh năm 1951; sau khi sinh ông N thì bà Ú bỏ nhà đi đâu không biết. Người vợ thứ hai tên Nguyễn Thị B sinh năm 1937, chết năm 1986; ông L1 và bà B có 02 người con là Nguyễn Thị H sinh năm 1964 và Nguyễn Thị Minh N2 sinh năm 1973; tất cả đều ở khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ông L1 có khối tài sản gồm 02 khu đất: khu đất có diện tích 2.486,6m² thuộc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 37-3ĐK và khu đất có diện tích 1.585,93m² (trong đó có 1.285m² đất nông nghiệp và 300,93m² đất thổ cư). Nguồn gốc hai khu đất trên là do cha mẹ của ông L1 để lại từ trước năm 1975 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L1, cụ thể:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.771,6m² chia làm 02 thửa; thửa số 112 có diện tích 2.486,6m²; thửa 58, 72, 75, 78 có diện tích 1.285m². Năm 2002, ông L1 chuyển nhượng 2.034m², bà L chuyển nhượng 452,6m², diện tích còn lại 1.285m².
- Giấy chứng nhận nhà đất thổ cư diện tích 300,93m² trên đất có 03 căn nhà có tổng diện tích nhà là 231,61m². Diện tích xây dựng là 258,69m²; tổng diện tích đất thổ cư và nông nghiệp hiện nay là 300,93m² + 1.285m² = 1.585,93m².
Ngày 03/6/1997, ông Nguyễn Văn L1 ra Ủy ban nhân dân phường P làm giấy tương phân cho các con như sau:
- Bà Nguyễn Thị L diện tích 260m² (ngang 10m, dài 26m), thửa đất số 112, đường T.
- Ông Nguyễn Văn N được tương phân diện tích nhà 73,15m² nằm trên diện tích đất 580m².
- Bà Nguyễn Thị Minh N2 được tương phân diện tích nhà 73m² nằm trên diện tích đất 400m².
- Bà Nguyễn Thị H được tương phân diện tích nhà 103,56m² trên diện tích đất 500m².
Năm 2002, các con của ông L1 gồm: ông N, bà H, bà N2 đồng ý trả lại phần nhà, đất đã được tương phân cho ông L1. Tháng 7 năm 2002, ông L1 tiến hành thủ tục đứng tên trên các phần nhà đất mà các con trả lại, cụ thể:
- Phần nhà và đất ở được cấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở theo số 681 ngày 21/10/2002 đứng tên ông L1, diện tích đất thổ cư 300,93m², diện tích nhà 231,61m², diện tích xây dựng 258,69m² theo Quyết định số 852/QĐ-CT ngày 21/10/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- Phần đất diện tích 3.771,6m² tại thửa số 58, 72, 75, 78 (125), tờ bản đồ 37-3ĐK, diện tích 1.285m² và thửa đất số 112, tờ bản đồ 37-3ĐK, diện tích 2.486,60m² được cấp quyền sử dụng đất ngày 26/7/2002 đứng tên ông L1, số vào sổ 00147 QSDĐ/H theo Quyết định số 340/QĐ-UB ngày 26/7/2002 của Ủy ban nhân dân thị xã T, đất có tứ cận: Bắc giáp bà L2 – đường P; Nam giáp ông T1 – bà L2; Đông giáp đường đất – T – bà R – bà H2; Tây giáp gò mả và bà H3.
Sau khi đứng tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, ông L1 cho các con như sau:
- Cho bà H diện tích nhà 103,56m², diện tích xây dựng 93,60m², diện tích đất 132,24m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sổ 550 cấp ngày 14/7/2004 tại Ủy ban nhân dân thành phố T theo Hợp đồng công chứng số 33 ngày 18/02/2004 tại Văn phòng C3 tỉnh Bình Dương. Ngày 14/7/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân do bà Trần Thị Kim V ký Quyết định số 721/GCN/2004 chấp thuận cho ông Nguyễn Văn L1 được quyền chuyển nhượng một phần quyền sở hữu nhà ở diện tích 103,56m² và một phần quyền sử dụng đất ở diện tích 132,24m²; đồng thời, cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130468, số vào sổ 550 ngày 14/7/2004.
- Ngày 11/02/2004, ông L1 ký Hợp đồng chuyển nhượng số 51 cho bà Nguyễn Thị H có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường P. Ngày 23/02/2004, được cơ quan địa chính và Phòng Nông nghiệp thị xã T xác nhận. Ngày 04/3/2004, Ủy ban nhân dân thị xã T có Quyết định số 1338 chấp thuận cho ông L1 được chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 1.285m² tại thửa đất 58, 72, 75, 78 tờ bản đồ 37-3ĐK cho bà H và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1697/QSDĐ ngày 07/4/2004.
- Ngày 18/02/2004, ông L1 tặng cho bà N2 căn nhà cấp 4, lợp tôn, diện tích xây dựng 73m2, diện tích sử dụng 64,86m² nằm trên diện tích đất 82,76m² tại số A đường P theo Hợp đồng công chứng số 34 tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương.
Phần nhà của ông N được ông L1 tặng theo Hợp đồng công chứng số 32 ngày 18/02/2004 tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương. Diện tích xây dựng 73,15m², nằm trên diện tích đất 85,93m², chưa làm sổ riêng cho ông N mà vẫn đang sử dụng sổ chung đứng tên ông L1.
- Phần đất của bà L nằm ở đường T, thuộc thửa số 112; năm 1997, ông L1 tương phân cho bà L là 260m². Đầu năm 2002, ông L1 cho bà L từ 260m² lên thành 452,6m², bà L đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị L3 theo Quyết định số 559/QĐ-UBND ngày 08/12/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T.
Như vậy, các giấy tờ tương phân của ông L1 cho các con gồm: Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Minh N2 vào năm 1997 tại Ủy ban nhân dân phường P đã được hủy bỏ bằng các giấy thỏa thuận giao quyền đứng tên sở hữu nhà đất của các con ông L1 sang cho ông L1 đứng tên. Sau đó, ông L1 làm thủ tục cho các con tài sản nhà và đất ở, có hợp đồng công chứng và các văn bản của Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M và Ủy ban nhân dân tỉnh B. Riêng phần diện tích đất nông nghiệp 1.285m² do bà H và ông C có công nuôi dưỡng ông L1 và có trách nhiệm thờ cúng ông L1 sau khi chết nên ông L1 đã làm thủ tục tặng cho bà H, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2004 cho đến nay. Do đó, việc ông N khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chia di sản thừa kế là không có căn cứ.
* Tại Bản tự khai ngày 12/4/2015 và Văn bản trình bày ý kiến ngày 26/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L (gọi tắt là bà L) trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ huyết thống. Về phần tranh chấp đất, bà L xác định: ông Nguyễn Văn L1 có 03 phần đất, nhưng khi ông L1 còn sống đã chuyển nhượng hết 02 phần, chỉ còn lại phần đất diện tích 1.585,93m² (gồm 300,93m² đất thổ cư và 1.285m² đất nông nghiệp) thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nguồn gốc đất là do ông L1 thừa hưởng của ông bà từ trước năm 1950. Bà L đồng ý với trình bày của ông Nghĩa L4 vào khoảng năm 1997, ông L1 lập giấy tương phân cho ông N phần đất đo đạc thực tế diện tích 666,39m² (85,93m² đất thổ cư và 580,46m² đất nông nghiệp), ông N đã sử dụng thực tế từ khi được tương phân cho đến nay và đã xây dựng khoảng 10 căn nhà trọ thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK. Riêng phần đất nông nghiệp còn lại diện tích khoảng 704,52m² vẫn là tài sản của ông L1 để lại chưa chia. Nay, bà L biết bà H và ông C giả mạo chữ ký của ông L1 để sang tên cho bà H, qua mặt các anh chị em trong gia đình là hoàn toàn sai trái. Vì vậy, bà L trình bày rõ ý kiến như sau:
- Bà L không đồng ý với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị đơn về việc cho rằng phần đất hiện tại bà L đang quản lý, sử dụng là do được cụ L1 tương phân. Vì phần đất này là do gia đình nhà chồng bà L cho vợ chồng bà L chứ không dính dáng đến phần đất của cụ L1.
- Bà L đồng ý với yêu cầu của ông N về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1338/QĐ.UB ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H.
- Bà L đồng ý với yêu cầu của ông N về việc buộc bà H, ông C trả lại cho ông N phần đất có diện tích 580,46m² thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T.
- Bà L đồng ý với yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Nguyễn Văn L1 chết để lại là phần đất có diện tích 704,54m² thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (bút lục 84).
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2024, bà L cho rằng: phần đất diện tích 1.585,93m² (gồm 300,93m² đất thổ cư và 1.285m² đất nông nghiệp) thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại đường P, phường P, thành phố T đã được ông L1 chia cho các con là bà N2, ông N và bà H khi còn sống; bà L đã được chia phần đất ở chỗ khác nên hiện nay nếu Tòa án có chia thừa kế đối với phần đất này đi chăng nữa, chia hiện vật hay giá trị thì bà L cũng không nhận; nếu có chia cho bà L thì bà L xin nhường lại cho 03 đồng thừa kế là bà N2, ông N và bà H. Bà L không có nhu cầu tranh chấp thừa kế, không có yêu cầu chia đất nên đề nghị Tòa án không triệu tập bà L và tiến hành giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Bà L nghe nói bà H bị vợ chồng ông P2 và bà T2 lừa nên lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp cho Ngân hàng vay tiền cho bà T2, ông P2. Việc bà H đứng tên toàn bộ diện tích đất của ông L1 để lại là không đúng. Tuy nhiên, tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 26/7/2024 thì bà L nhường lại phần thừa kế của mình cho ông Nguyễn Văn N được toàn quyền sở hữu, quản lý và định đoạt; bà L không giao phần thừa kế cho ai khác thừa hưởng ngoài ông Nguyễn Văn N.
* Tại Bản tự khai ngày 18/4/2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh N2 (gọi tắt là bà N2) trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ huyết thống. Về khối tài sản do ông L1 để lại, bà N2 xác định gồm 02 khu đất: một khu đất có diện tích 2.486,6m² thuộc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 37-3ĐK và một khu đất có diện tích 1.585,93m² (trong đó có 1.285m² đất nông nghiệp và 300,93m² đất thổ cư). Nguồn gốc đất là do ông, bà nội của bà N2 để lại cho ông L1 từ trước năm 1950. Hai khu đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L1, cụ thể:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.771,6m² chia làm 02 thửa; thửa số 112 có diện tích 2.486,6m²; thửa số 58, 72, 75, 78 diện tích 1.285m². Năm 2002, ông L1 chuyển nhượng 2.034m², bà L chuyển nhượng 452,6m² nên diện tích còn lại 1.285m².
Giấy chứng nhận nhà đất thổ cư diện tích 300,93m², trên đất có 03 căn nhà có tổng diện tích nhà là 231,61m². Diện tích xây dựng là 258,69m²; tổng diện tích đất thổ cư và nông nghiệp hiện nay là 300,93m² + 1.285m² = 1.585,93m².
Ngày 03/6/1997, ông L1 ra Ủy ban nhân dân phường P làm giấy tương phân cho các con như sau:
- Bà Nguyễn Thị L diện tích 260m² (ngang 10m, dài 26m), thửa đất số 112, đường T.
- Ông Nguyễn Văn N được tương phân diện tích nhà 73,15m² nằm trên diện tích đất 580m².
- Bà Nguyễn Thị Minh N2 được tương phân diện tích nhà 73m² nằm trên diện tích đất 400m².
- Bà Nguyễn Thị H được tương phân diện tích nhà 103,56m² trên diện tích đất 500m².
Năm 2002, các con của ông L1 gồm: ông N, bà H, bà N2 đồng ý trả lại phần nhà, đất đã được tương phân cho ông L1. Tháng 7 năm 2002, ông L1 tiến hành thủ tục đứng tên trên các phần nhà đất mà các con trả lại, cụ thể:
- Phần nhà và đất ở được cấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở theo số 681 ngày 21/10/2002 đứng tên ông L1, diện tích đất thổ cư 300,93m², diện tích nhà 231,61m², diện tích xây dựng 258,69m² theo Quyết định số 852/QĐ-CT ngày 21/10/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- Phần đất diện tích 3.771,6m² tại thửa số 58, 72, 75, 78 (125), tờ bản đồ 37-3ĐK, diện tích 1.285m² và thửa đất số 112, tờ bản đồ 37-3ĐK, diện tích 2.486,60m² được cấp quyền sử dụng đất ngày 26/7/2002 đứng tên ông L1, số vào sổ 00147 QSDĐ/H theo Quyết định số 340/QĐ-UB ngày 26/7/2002 của Ủy ban nhân dân thị xã T, đất có tứ cận: Bắc giáp bà L2 – đường P; Nam giáp ông T1 – bà L2; Đông giáp đường đất – T – bà R – bà H2; Tây giáp gò mả và bà H3.
Sau khi đứng tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, ông L1 cho các con như sau:
- Cho bà H diện tích nhà 103,56m², diện tích xây dựng 93,60m², diện tích đất 132,24m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sổ 550 cấp ngày 14/7/2004 tại Ủy ban nhân dân thành phố T theo Hợp đồng công chứng số 33 ngày 18/02/2004 tại Văn phòng C3 tỉnh Bình Dương. Ngày 14/7/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân do bà Trần Thị Kim V ký Quyết định số 721/GCN/2004 chấp thuận cho ông L1 được quyền chuyển nhượng một phần quyền sở hữu nhà ở diện tích 103,56m² và một phần quyền sử dụng đất ở diện tích 132,24m²; đồng thời, cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130468, số vào sổ 550 ngày 14/7/2004.
- Ngày 11/02/2004, ông L1 ký Hợp đồng chuyển nhượng số 51 cho bà Nguyễn Thị H có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường P. Ngày 23/02/2004, được cơ quan địa chính và Phòng Nông nghiệp thị xã T xác nhận. Ngày 04/3/2004, Ủy ban nhân dân thị xã T có Quyết định số 1338 chấp thuận cho ông L1 được chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 1.285m² tại thửa đất 58, 72, 75, 78 tờ bản đồ 37-3ĐK cho bà H và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1697/QSDĐ ngày 07/4/2004.
- Ngày 18/02/2004, ông L1 tặng cho bà N2 căn nhà cấp 4, lợp tôn, diện tích xây dựng 73m², diện tích sử dụng 64,86m² nằm trên diện tích đất 82,76m² tại số A đường P theo Hợp đồng công chứng số 34 tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương.
Phần nhà của ông N được ông L1 tặng theo Hợp đồng công chứng số 32 ngày 18/02/2004 tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương. Diện tích xây dựng 73,15m², nằm trên diện tích đất 85,93m², chưa làm sổ riêng cho ông N mà vẫn đang sử dụng sổ chung đứng tên ông L1.
Phần đất của bà L ở đường T, thuộc thửa số 112; năm 1997, ông L1 tương phân cho bà L là 260m². Đầu năm 2002, ông L1 cho bà L từ 260m² lên thành 452,6m², bà L đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị L3 theo Quyết định số 559/QĐ-UBND ngày 08/12/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T.
Như vậy, các giấy tờ tương phân của ông L1 cho các con gồm: Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Minh N2 vào năm 1997 tại Ủy ban nhân dân phường P đã được hủy bỏ bằng các giấy thỏa thuận giao quyền đứng tên sở hữu nhà đất của các con ông L1 sang cho ông L1 đứng tên. Sau đó, ông L1 làm thủ tục cho các con tài sản nhà và đất ở, có hợp đồng công chứng và các văn bản của Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M và Ủy ban nhân dân tỉnh B. Riêng phần diện tích đất nông nghiệp 1.285m² do bà H và ông C có công nuôi dưỡng ông L1 và có trách nhiệm thờ cúng ông L1 sau khi chết nên ông L1 làm thủ tục tặng cho bà H, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2004 và sử dụng ổn định cho đến nay không tranh chấp. Việc ông L1 cho bà H, ông C diện tích đất 1.285m² là hoàn toàn tự nguyện nên bà N2 hoàn toàn đồng ý. Việc ông N khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chia di sản thừa kế là không có căn cứ nên bà N2 không chấp nhận (bút lục 88).
* Tại Bản tự khai ngày 21/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Nguyễn Nhựt P và bà Trần Nguyễn Trúc P1 thống nhất theo ý kiến trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị H và ông Trần Minh C; đồng thời, có Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Tại Bản tường trình ngày 23/3/2016, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 (gọi tắt là Ngân hàng Đ1) trình bày:
Ngân hàng Đ1 là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn Công ty TNHH MTV T5, nội dung cụ thể như sau: Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B1 ký kết với Công ty TNHH MTV T5 (gọi tắt là Công ty T5) Hợp đồng vay vốn số H0075/1 ngày 20/3/2009, được thế chấp bởi quyền sử dụng đất số bìa Đ 103400 cùng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130468 theo Hợp đồng thế chấp số H.0013/ILC HĐTC5 ngày 16/3/2009. Số tiền vay (vốn gốc) 5.000.000.000 đồng; lãi suất 10,5%/năm; thời hạn vay từ ngày 20/4/2009 đến ngày 16/3/2010; mục đích bổ sung vốn lưu động.
Hình thức bảo đảm nợ vay: ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị H bảo lãnh cho Công ty T5 thông qua hợp đồng thế chấp 3 bên số H.0013/ILC HĐTC5 với hạn mức tín dụng tối đa là 5.000.000.000 đồng. Tài sản thế chấp gồm có: Căn nhà cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130468; 1.285m² đất nông nghiệp tọa lạc tại phường P, thị xã T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 103400 (nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn L1 tại Quyết định số 1338/QĐ.UB ngày 07/4/2006). Vốn lãi đã thu: Vốn 0 đồng; lãi trong hạn 402.800.078 đồng; lãi quá hạn 0 đồng. Dự nợ còn lại tính đến ngày 23/3/2016 gồm: Vốn 5.000.000.000 đồng; lãi trong hạn 78.449.922 đồng; lãi quá hạn 4.810.312.500 đồng. Tổng vốn, lãi trong hạn và lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/3/2016 là 9.888.762.422 đồng. Hiện tại Ngân hàng Đ1 đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 103400 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130468. Hợp đồng thế chấp 3 bên số H.0013/ILC HĐTC5 ngày 16/3/2009 được công chứng tại Phòng C4 tỉnh Bình Dương, có chữ ký của ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị H là chủ đất; ông Trần Hữu P2 đại diện cho Công ty T5; ông Đổng Trọng T3 đại diện Ngân hàng và Công chứng viên Nguyễn Hữu T4.
Tình hình sự việc: Hồ sơ vay của Công ty T5 đã bị quá hạn nhiều năm đến nay vẫn chưa thanh toán. Tháng 9 năm 2010, Ngân hàng Đ1 khởi kiện Công ty T5 tại Tòa án và được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết theo Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011. Ngày 24/10/2012, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương ra Quyết định thi hành án số 32/QĐ-CTHA về việc thi hành các tài sản đảm bảo theo yêu cầu để thanh toán các khoản nợ vay tại Ngân hàng Đ1, trong đó có tài sản thế chấp nêu trên. Quá trình thi hành án đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án nhiều lần, kéo dài nhiều năm nhưng vẫn chưa thi hành được. Ngày 25/3/2015, Ngân hàng Đ1 nhận được Giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một mời tham gia hòa giải trong vụ án tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn N với bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trần Minh C về việc yêu cầu: hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004 giữa ông Nguyễn Văn L1 với bà Nguyễn Thị H; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 103400, theo Quyết định số 1338/QĐ.UB ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H; yêu cầu ông C và bà H trả lại cho ông N phần đất diện tích 580,46m² thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK và chia di sản thừa kế do ông Nguyễn Văn L1 để lại là phần đất diện tích 704,54m² thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nhưng do đang trong giai đoạn chuyển giao lãnh đạo nên Ngân hàng không thể tham gia buổi hòa giải trên.
Ngày 29/9/2015, Ngân hàng Đ1 nhận được Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo hồ sơ thụ lý số 49/2015/TLST-DS ngày 25/02/2015 để đợi kết quả trưng cầu giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
Ngày 25/02/2016, Ngân hàng Đ1 nhận được Giấy triệu tập và Thông báo về phiên hòa giải ngày 15/3/2016. Ngân hàng Đ1 xác định: Ngân hàng đã làm các thủ tục thế chấp và cho vay đúng quy định, hợp đồng thế chấp được công chứng tại Phòng C4 tỉnh Bình Dương, được đăng ký thế chấp tại Phòng Tài nguyên nơi quản lý sổ, sổ đỏ do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp và các thủ tục nhận chuyển nhượng cấp sổ là trách nhiệm của các ban ngành liên quan có trách nhiệm. Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quyền sử dụng đất hiện đang thế chấp tại Ngân hàng Đ1 có dấu hiệu vi phạm trong quá trình làm thủ tục ra sổ đỏ, đồng thời nghĩa vụ đảm bảo nợ vay của Ngân hàng cũng có dấu hiệu bị thiệt hại. Ngân hàng Đ1 đề nghị Tòa án công minh xem xét đến các yếu tố vi phạm pháp luật, trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức có liên quan; đề nghị quý Tòa xem xét xử lý tranh chấp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng (bút lục 102-104).
* Tại Bản tự khai và xin vắng mặt không tham gia tố tụng tại Tòa án ngày 05/01/2017, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T5 (gọi tắt là Công ty T5) do ông Trần Hữu P2 làm đại diện theo pháp luật trình bày:
Ngày 16/3/2009, Công ty T5 có ký Hợp đồng số H0013/1LC/HĐ và Hợp đồng thế chấp số H0013/1LC/HĐTC với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 để vay số tiền 5.000.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn thu mua, chế biến hạt điều. Thời hạn vay 04 tháng, từ ngày 16/11/2009 đến 16/3/2010; lãi suất 0,875%/tháng. Hình thức vay, thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.285m² thuộc thửa số 58, 72, 75, 78, tờ bản đồ số 37-3ĐK và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số A, diện tích 132,24m² tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tổng giá trị tài sản thế chấp là 7.566.900 đồng. Người thế chấp ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị H. Trong mấy năm qua, Công ty T5 liên tục làm ăn thua lỗ nên không có khả năng chi trả, một số cá nhân và công ty nợ Công ty T5 cũng lâm vào phá sản nên không có khả năng chi trả, dẫn đến Công ty T5 không còn vốn để hoạt động.
Năm 2011, Ngân hàng Đ1 khởi kiện Công ty T5 ra Tòa và được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết tại Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 buộc Công ty T5 phải trả gốc và lãi số tiền 8.374.832.708 đồng. Ngày 24/12/2012, Cục Thi hành án dân sự ra Quyết định thi hành án số 32 về việc thi hành bản án số 09. Tài sản thế chấp đã được đưa ra bán đấu giá tại cơ quan đấu giá tỉnh Bình Dương thì năm 2015, ông Nguyễn Văn N khởi kiện đòi lại tài sản và yêu cầu chia thừa kế với bà H, ông C, bà N2. Hiện nay, Công ty T5 đang tìm phương án hoạt động trở lại để có tiền trả nợ Ngân hàng và trả lại tài sản thế chấp cho ông C, bà H, bà N2. Do công việc bận nên Công ty T5 không thể tham gia tố tụng (bút lục 358).
* Tại Văn bản 3156/QĐ-UBND ngày 25/8/2016, Ủy ban nhân dân thành phố T ủy quyền cho Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T tham gia tố tụng (bút lục 294). Tại Văn bản số 1091/TNMT ngày 30/11/2016, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T trình bày:
Ông Nguyễn Văn L1 là chủ sử dụng khu đất diện tích 3.771,6m² thuộc thửa số 58, 72-75-78 (125), 112, tờ bản đồ số 37-3ĐK, phường P, được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00147 QSDĐ/H ngày 26/7/2002. Sau đó, ông L1 chuyển nhượng cho Nguyễn Ngọc H4 diện tích 2.034m² thuộc thửa đất số 112 (143), tờ bản đồ số 37-3ĐK và chuyển nhượng cho Huỳnh Thị L3 diện tích 452,6m² thuộc thửa đất số 112 (142), tờ bản đồ số 37-3ĐK. Diện tích đất còn lại 1.285m².
Ngày 11/02/2004, ông Nguyễn Văn L1 ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H toàn bộ diện tích còn lại 1.285m² thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, phường P. Hợp đồng được Ủy ban nhân dân phường P xác nhận ngày 11/02/2004. Ngày 30/3/2004, Phòng N4 và Địa chính thị xã T (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T) có Tờ trình số 1290/TT.BĐ về việc thẩm tra hồ sơ đăng ký biến động đất đai. Ngày 07/4/2004, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 1338/QĐ-UBND về việc chấp thuận cho ông Nguyễn Văn L1 chuyển quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H và bà H được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1697 QSDĐ ngày 07/4/2004 với diện tích 1.285m² thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, phường P. Đồng thời, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00147 QSDĐ/H ngày 26/7/2002 cấp cho ông Nguyễn Văn L1 được chỉnh lý thu hồi. Việc Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1697 QSDĐ ngày 07/4/2004 cho bà Nguyễn Thị H được thực hiện phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm 2001.
Khi Ủy ban nhân dân thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1697 QSDĐ ngày 07/4/2004 cho bà Nguyễn Thị H (nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của ông Nguyễn Văn L1) hình thể và diện tích trên cơ sở được trích lục giữ nguyên hình thể theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00147 QSDĐ/H ngày 26/7/2002 đã cấp cho ông Nguyễn Văn L1 (bút lục 335).
* Tại Văn bản 1292/CTHADS-NV ngày 31/8/2016, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (gọi tắt là Cục Thi hành án dân sự) trình bày:
Theo Nội dung Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 thì quyền sử dụng diện tích đất 1.285m² thuộc thửa đất số 58-72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 103400 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 07/4/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị H và căn nhà cấp 4 (gắn liền với diện đất trên) có diện tích 103,56m² và quyền sử dụng đất ở diện tích 132,24m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 130468 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 14/7/2004 cho bà Nguyễn Thị H. Các tài sản trên bảo lãnh cho khoản vay 5.000.000.000 đồng và các khoản lãi phát sinh từ khoản vay này của Công ty TNHH T5, địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương tại Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh B1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số H0013/LC HĐDTC ngày 16/3/2009. Tài sản này đang được Tòa án xem xét giải quyết. Qua khảo sát diện tích đất trên có các căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất. Vì vậy, khi giải quyết cần xem xét về lối đi để Cục Thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án được thuận lợi.
Việc ông N khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết. Tuy nhiên, khi giải quyết thì cần xem xét bảo đảm việc xử lý các hậu quả pháp lý liên quan đến việc thi hành Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, tránh việc xem xét giải quyết nhiều lần đối với cùng một vụ việc và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Đối với việc tham gia tố tụng: theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan Thi hành án dân sự có chức năng, nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; Chấp hành viên Cơ quan Thi hành án được phân công tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và được quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án để thu hồi tiền, tài sản hoặc giao tài sản cho người được thi hành án. Việc giải quyết vụ án dân sự không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Cục Thi hành án dân sự không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Quá trình tổ chức thi hành án, Cục Thi hành án dân sự tiến hành khảo sát đo đạc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H, chưa ban hành quyết định kê biên xử lý tài sản. Trên đây là ý kiến của Cục Thi hành án dân sự đối với việc thụ lý giải quyết tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn N với bà Nguyễn Thị H của Tòa án (bút lục 143).
* Tại Tờ tường trình ngày 13/3/2017, cụ Nguyễn Thị Ú (gọi tắt là cụ Ú) trình bày: bà Ú và ông L1 sống chung với nhau từ năm 1950 đến năm 1953 thì thôi nhau, quá trình sống chung có 02 người con chung là Nguyễn Thị L và Nguyễn Văn N. Bà Ú với ông L1 sống chung với nhau không làm thủ tục đăng ký kết hôn nên khi thôi nhau không làm thủ tục ly hôn. Từ năm 1953 tới nay thì bà Ú và ông L1 không còn liên hệ với nhau và bà Ú cũng có gia đình riêng. Hiện ông N, bà H, ông C đang tranh chấp di sản thừa kế do ông L1 để lại, đây là phần đất ông L1 được thừa hưởng từ bố mẹ của ông L1 trước khi sống chung với bà Ú nên bà Ú hoàn toàn không có quyền lợi gì đối với phần đất trên. Vì vậy, bà Ú làm tờ tường trình đề nghị Tòa án không đưa bà Ú vào tham gia tố tụng trong vụ án và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt (bút lục 383-384).
* Tại Bản tự khai ngày 27/6/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Khánh H1 (gọi tắt là bà H1) trình bày:
Nguyên cha mẹ của ông Nghĩa là ông Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1924, chết năm 2010) và bà Nguyễn Thị Ú kết hôn năm 1950 đến năm 1953 thì ly hôn. Ông L1 và bà Ú có 02 người con chung, gồm: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951 và ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1953. Ông N có 01 người con ruột là Nguyễn Khánh H1. Khoảng năm 1960, ông L1 chung sống với bà Nguyễn Thị B (chết năm 1985) và có 02 người con chung, gồm: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Minh N2, sinh năm 1973.
Khoảng trước năm 1950, ông L1 được thừa hưởng của ông bà phần đất diện tích 6.763m², thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được Ủy ban nhân dân tỉnh S công nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 1887/QĐ-UB ngày 25/7/1994. Ông N sống với ông L1 trên phần đất này từ năm 1953. Năm 1978, ông N lấy vợ nên được ông L1 cho một phần đất ở riêng có diện tích theo đo đạc thực tế là 666,39m², trên đất có căn nhà gỗ cạnh nhà của ông L1. Ngày 03/6/1997, ông L1 làm Giấy tương phân cho ông N phần đất mà ông N đang ở có sự chứng kiến của các anh em trong gia đình và chính quyền địa phương; khi địa chính đo đạc thực tế là 666,39m², thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK. Ông N đã xây dựng thêm công trình phụ cùng một số căn nhà trọ cho đến nay.
Năm 2002, sau khi ông L1 bán một phần đất của mình và xây cho ông N 01 căn nhà trên nền căn nhà gỗ mà ông N đang ở. Ngày 19/02/2004, ông L1 lập hợp đồng tặng cho ông N căn nhà trên (diện tích đất ở là 85,93m² theo Hợp đồng tặng cho tài sản số 32 HĐ/CTS tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương, phần đất còn lại ông N đã xây dựng công trình phụ và một số căn nhà trọ có diện tích 666,39m² – 85,93m² = 580,46m², thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông N theo tờ tương phân ngày 03/6/1997. Nhưng để thuận tiện thì ông L1 vẫn đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 1.285m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00147 ngày 26/7/2002 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho ông L1, trong đó có 580,46m² đất là của ông N quản lý, sử dụng thực tế theo Giấy tương phân ngày 03/6/1997.
Ngày 11/02/2004, ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị H đã lén lút, giả mạo chữ ký của ông L1 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 1.285m² của ông L1 cho bà H. Ngày 07/4/2004, hộ bà Nguyễn Thị H được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 1338/QĐ.UB đối với phần đất diện tích 1.285m². Sau đó, bà H và ông C đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 – Chi nhánh B1 để vay tiền làm ăn, nhưng bị vỡ nợ. Khi Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương tiến hành kê biên tài sản là phần đất trên thì gia đình ông N mới biết sự việc.
Vì vậy, bà H1 đồng ý với nội dung khởi kiện của ông N (cha bà H1) yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004 giữa ông Nguyễn Văn L1 với bà Nguyễn Thị H đối với phần đất diện tích 1.285m², thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương vì đã giả mạo chữ ký, không đúng quy định pháp luật; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1338/QĐ.UB ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H đối với phần đất diện tích 1.285m²; yêu cầu ông C và bà H phải trả lại cho ông N phần đất diện tích 580,46m² thuộc thửa đất số 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo đo đạc thực tế hiện nay là 579,2m²) là phần đất ông L1 đã cho ông N theo Giấy tương phân ngày 03/6/1997; yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Nguyễn Văn L1 để lại là phần đất có diện tích 1.285m² – 580,46m² = 704,54m² thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T thành 04 phần bằng nhau, tương đương mỗi phần diện tích 176,135m² (bút lục 428-429).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, quyết định:
Căn cứ khoản 5 và khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, các Điều 147, 156, 157, 160, 161, 228, 235, 264, 266, 271, 273 và khoản 4 Điều 352 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 6, 32, 193 của Luật Tố tụng hành chính; các Điều 131, 136, 138 của Bộ luật Dân sự năm 1995; khoản 1 Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 49, 50, khoản 2 Điều 52 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 100, khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 170, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trần Minh C về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa Đ 103400, số vào sổ 1697/QSDĐ ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK phường P.
1.2. Công nhận cho ông Nguyễn Văn N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất ở (đất thổ cư) 85,93m², trên đất có nhà của ông Nguyễn Văn N đang sử dụng theo Hợp đồng tặng cho tài sản số 32 HĐ/CTS lập ngày 19/02/2004 tại Văn phòng C2 tỉnh Bình Dương (1).
1.3. Bà Nguyễn Thị H được quản lý sử dụng căn nhà tại số A, tổ B, khu A, phường P có diện tích xây dựng 103,56m², diện tích sử dụng 93,60m² trên diện tích đất ở 132,24m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130468 ngày 14/7/2004 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp (2).
1.4. Bà Nguyễn Thị Minh N2 được quản lý sử dụng căn nhà tại số A, tổ B, khu A, phường P có diện tích xây dựng 73m², diện tích sử dụng 64,86m² trên diện tích đất ở 82,76m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 130469 ngày 14/7/2004 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp (3).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trần Minh C về việc “tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất” do ông Nguyễn Văn L1 chết để lại như sau:
2.1. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Minh C, bà Nguyễn Thị Minh N2 về việc để lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 112,3m² làm lối đi chung vào khu đất, không yêu cầu chia thừa kế.
2.2. Chia cho ông Nguyễn Văn N được quyền thừa kế diện tích đất 493,27m² (4). Tổng diện tích đất ông Nguyễn Văn N được quyền quản lý, sử dụng là (1) + (4) = 85,93m² + 493,27m² = 579,20m² (ký hiệu C trên sơ đồ kèm theo).
2.3. Chia cho bà Nguyễn Thị H được quyền thừa kế diện tích đất 391,96m² (5). Tổng diện tích đất bà Nguyễn Thị H được quyền quản lý, sử dụng là (2) + (5) = 132,24m² + 391,96m² = 524,20m² (ký hiệu B trên sơ đồ kèm theo).
2.4. Chia cho bà Nguyễn Thị Minh N2 (tên khác là Nguyễn Thị N2) được quyền thừa kế diện tích đất 260,94m² (6). Tổng diện tích đất bà Nguyễn Thị Minh N2 được quyền quản lý, sử dụng là (3) + (6) = 82,76m² + 260,94m² = 343,70m² (ký hiệu A trên sơ đồ kèm theo).
3. Về bồi hoàn giá trị chênh lệch đất được chia thừa kế:
3.1. Bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn N số tiền chênh lệch là 2.394.300.000 đồng.
3.2. Bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Minh N2 số tiền chênh lệch là 768.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Minh N2 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai đối với diện tích đất được quyền quản lý, sử dụng theo quyết định của bản án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng nghị và kháng cáo như sau:
- Ngày 15/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị phúc thẩm toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, theo Quyết định số 37/QĐ-VKS-DS, yêu cầu xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 14/8/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trần Minh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh N2 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
- Ngày 13/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:
Thay đổi một phần nội dung kháng nghị, cụ thể: Đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm do tòa án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng, đó là: Việc xác định hợp đồng chuyển nhượng bị giả mạo là đúng, việc kiến nghị xem xét đối với bản án Kinh doanh thương mại số 09/2011/KDTMST ngày 22/4/2011 là đúng, vì đây là cơ sở để giải quyết vụ án. Lẽ ra, Tòa án cần phải tạm đình chỉ để chờ kết quả giải quyết kiến nghị của cấp có thẩm quyền.
Đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương và đơn kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làm trong thời hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Cấp phúc thẩm nhận thấy: Việc xem xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn bộ vụ án và ảnh hưởng đến việc xem xét yêu cầu kháng cáo của đương sự. Vì vậy, xét kháng nghị như sau:
[1.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004 giữa cụ Nguyễn Văn L1 với bà Nguyễn Thị H đối với diện tích đất 1.285m², thuộc thửa đất số 58, 72-75-78 (125), tờ bản đồ số 37-3ĐK, tọa lạc tại khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là vô hiệu; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 103400 (số vào sổ 1697 QSDĐ) ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H đối với diện tích đất 1.285m²; yêu cầu bà H và ông C trả lại cho ông N diện tích đất cụ L1 đã tặng cho ông N theo Giấy tương phân ngày 03/6/1997 theo đo đạc thực tế có diện tích 579,2m² (thuộc một phần diện tích đất nêu trên); yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ L1 để lại là phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 980,2m² (sau khi đã trừ phần đất đã tặng cho ông N) vì cho rằng, bà H đã giả mạo chữ ký của cụ L1 trong việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/02/2004, để chuyển nhượng diện tích đất 1.285m² cho bà H. Đồng thời, một phần diện tích nêu trên, cụ L1 đã tặng cho ông N theo Giấy tương phân ngày 03/6/1997, ông N hiện đang quản lý, sử dụng đất, xây dựng nhà ở, vật kiến trúc trên đất.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/02/2004 giữa cụ Nguyễn Văn L1 với bà Nguyễn Thị H đối với diện tích đất 1.285m². Ngày 07/4/2004, Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M đã cấp quyền sử dụng cho hộ bà H. Ngày 16/3/2009, bà H, ông C đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 Hợp đồng thế chấp 3 bên số H.0013/ILC HĐTC5, thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH MTV T5 đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết, Công ty TNHH MTV T5 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 đã khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tại Bản án kinh doanh thương mại số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 về việc Ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp đối với tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
Ngày 24/4/2017, Chánh án Tòa án nhân thành phố T có văn bản số 92/TA-VP và ngày 08/6/2017, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có văn bản số 479/TA-KTNV&THA, kiến nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án kinh doanh thương mại số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Vì cho rằng, theo Kết luận giám định số 1754/GĐ-PC54 ngày 08/10/2015 của Phòng K1 - Công an tỉnh B thì, “chữ ký Nguyễn Văn L1 trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải do một người ký”, đây là tình tiết để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm theo quy định tại Điều 352 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, ngày 29/8/2022, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 84/TB-TA, trả lời không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
Như vậy, đối tượng tranh chấp trong vụ này là diện tích đất 1.285m² (theo đo đạc thực tế có diện tích 1.559,4m² ) đã được giải quyết bằng Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, đang còn hiệu lực pháp luật, đã chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 về việc xử lý tài sản thế chấp.
[1.2] Theo quy định tại Điều 354 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết. Như vậy, lẽ ra khi Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 84/TB-TA, trả lời không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Trong trường hợp, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn cho rằng có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì phải kiến nghị đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xem xét kháng nghị theo thẩm quyền. Đồng thời, phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết kiến nghị kháng nghị tái thẩm mới đủ căn cứ giải quyết vụ án.
Theo đó, trong trường hợp Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương không bị kháng nghị tái thẩm, thì phải được thi hành theo đúng quy định pháp luật. Trường hợp bị kháng nghị tái thẩm hủy bản án thì phải nhập hai vụ án để giải quyết trong cùng một vụ án mới đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.
Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định hợp đồng giữa ông L1 và bà H vào ngày 11/02/2004 là vô hiệu do giả tạo; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất của cụ L1 cho ông N; chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ L1 cho những người thừa kế. Đồng thời, lại tiếp tục kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án số 09/2011/KDTM-ST ngày 22/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như đã phân tích nêu trên.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng chưa xem xét đến quyền và lợi ích hợp pháp của của bà H trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu; chưa xem xét việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; không xem xét đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng trong trường hợp hợp đồng thế chấp bị vô hiệu, phải hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp, là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.
[3] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao về việc thay đổi nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm là có căn cứ để chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại đảm bảo đúng thủ tục tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo đúng quy định pháp luật.
[4] Do hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại nên không xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trần Minh C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh N2, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 và một phần Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Chuyển hồ sơ cho tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm được giải quyết lại trong quá trình xét xử sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: H5 lại cho ông/bà Nguyễn Thị H, Trần Minh C, Nguyễn Thị Minh N2, Ngân hàng TMCP Đ1 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000300, 0000301 ngày 19/8/2024; 0000291 ngày 14/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 692/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 692/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy án
