|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
|
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 692/2025/DS-PT |
|
| Ngày: 23-6-2025 |
|
| V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất". |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Kim Thúy.
Các Thẩm phán: Ông Phan Nguyên Nguyên.
Bà Nguyễn Thị Thoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lành, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 18 và 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 949/2024/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2104/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6705/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
Nguyên đơn: Ông Liên Phương V, sinh năm 1959; Địa chỉ thường trú: 2 T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1955; Địa chỉ thường trú: 57 H, C, H, Hà Nội hoặc ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1992; Địa chỉ: A Tổ G H, H, Hà Nội hoặc bà Dương Thị Kiều L, sinh năm 1993; Địa chỉ thường trú: Xóm Đ, Đ, Thái Nguyên. Cùng địa chỉ liên hệ: Công ty L10 – Tầng B, Tòa nhà A Chung cư nhà ở C, chiến sĩ Bộ C2 – 282 N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. (Là người đại diện theo ủy quyền - Giấy ủy quyền số 03461 lập ngày 09/5/2025 tại Văn phòng C3);
- Ông Đinh Thái Q, sinh năm 1966; Địa chỉ: B N, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền - Giấy ủy quyền số 009266 lập ngày 18/7/2018 tại Văn phòng C4)
Bị đơn: Bà Võ Thị Kim Đ, sinh năm 1936 (chết năm 2007); Địa chỉ: 1, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
- Ông Lê Hữu T1, sinh năm 1962;
- Ông Lê Hữu T2, sinh năm 1965 (chết ngày 15/6/2020);
- Ông Lê Hữu T3, sinh năm 1972;
- Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1972;
- Bà Lê Thị Ngọc T4, sinh năm 1975;
Cùng hộ khẩu thường trú: 117/1, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Hữu T3, bà Lê Thị Ngọc D, bà Lê Thị Ngọc T4: Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1959; Địa chỉ: B, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền - Giấy ủy quyền: Số công chứng 006296 ngày 19/11/2019, số công chứng 001935 ngày 23/3/2020, số công chứng 002539 ngày 29/4/2020 cùng lập tại Văn phòng C5)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Xuân N, sinh năm 1972;
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1979;
Cùng địa chỉ: 1, Tổ A, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: R14 D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Vũ Thị T6, sinh năm 1963;
- Ông Lê Thanh T7, sinh năm 1987;
- Bà Lê Hoài T8, sinh năm 1994;
- Bà Đặng Thúy K, sinh năm 1989;
Cùng địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Đại V1, sinh năm 1974;
- Bà Lê Thị P, sinh năm 1979;
- Ông Lê Anh T9, sinh năm 2000;
- Bà Trần Thị Bích N1, sinh năm 2001;
Cùng địa chỉ: A, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1979;
- Bà Phạm Thị P1, sinh năm 1977;
- Ông Lê Đình A, sinh năm 1986;
- Ông Lê Sĩ T10, sinh năm 1982;
- Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 2002;
- Bà Trần Kim N2, sinh năm 2003;
Cùng địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: 72 DHT A, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Cao Văn Q1, sinh năm 1975;
- Bà Bùi Thị L4, sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: 2 Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1987;
- Bà Đinh Thị T11, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: 1/28/5 Đ, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Lê Thị Thu T12, sinh năm 1975;
- Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1971;
Cùng địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Đỗ Thị Thu S1, sinh năm 1958;
- Ông Phạm Thanh T13, sinh năm 1995;
- Bà Phạm Thị Thu T14, sinh năm 1990;
- Ông Nguyễn Thanh P2, sinh năm 1986;
- Bà Nguyễn Thị Kim P3, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Dương Thị L5, sinh năm 1961; Địa chỉ: A Đường T, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: A Khu phố A, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974;
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968;
- Bà Hoàng Thị Vũ H2, sinh năm 1995;
- Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1994;
Cùng địa chỉ: A (hoặc số A), Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), sinh năm 1969; Địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thu T15, sinh năm 1964; Địa chỉ: I T, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu T15:
- Ông Nguyễn Hoàng H4, sinh năm 1959; Địa chỉ thường trú: 4F Cư xá Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: A T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Là người đại diện theo ủy Quyền - Giấy ủy quyền số công chứng 08287 ngày 01/11/2024 lập tại Văn phòng C3).
- Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1959 (Là người đại diện theo ủy Quyền - Giấy ủy quyền số công chứng 006338 ngày 16/10/2024 lập tại Văn phòng C6).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu T15: Luật sư Vũ Đức H5, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, Thành viên Văn phòng L11; Địa chỉ: A T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị P4, sinh năm 1945; Địa chỉ: I, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Hữu N5, sinh năm 1966;
- Bà Phạm Thị Mỹ T16, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Nhà không số (số nhà T), Đường T, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị T17, sinh năm 1966; Địa chỉ: 2 T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T17:
Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1955 hoặc ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1992 hoặc bà Dương Thị Kiều L, sinh năm 1993; (Là người đại diện theo ủy quyền - Giấy ủy quyền số 03461 lập ngày 09/5/2025 tại Văn phòng C3);
- Ông Đinh Thái Q, sinh năm 1966. (Là người đại diện theo ủy quyền - Giấy ủy quyền số 009266 lập ngày 18/7/2018 tại Văn phòng C4)
Người kháng cáo: Ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5.
(Ông Phạm Thanh B, ông Nguyễn Đức T, bà Dương Thị Kiều L, bà Nguyễn Thị T5, ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, bà Nguyễn Thị H, bà Phạm Thị N3, ông Nguyễn Hoàng H4, Luật sư Vũ Đức H5, ông Nguyễn Hữu N5, bà Nguyễn Thị H có mặt; Ông Nguyễn Thanh L2 (xin vắng mặt phiên tòa ngày 18/6/2025 có mặt tại phiên tòa ngày 23/6/2025; Ông Nguyễn Thanh S, bà Đinh Thị T11 xin vắng mặt; Các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Liên Phương V và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Khoảng năm 1991, bà Võ Thị Kim Đ và các con là ông (bà) Lê Hữu T1, Lê Hữu T3, Lê Hữu T2, Lê Thị Ngọc D và Lê Thị Ngọc T4 có thoả thuận bán cho ông Liên Phương V căn nhà mái ngói, vách tường, nền xi măng trên diện tích 846m² toạ lạc tại 117/1 ấp H, xã T, huyện H với giá 17 lượng vàng 24K, đã giao 16,5 lượng, số còn lại sẽ giao khi hoàn tất thủ tục, việc mua bán lập bằng giấy tay, gia đình bà Đ đã giao nhà đất cho ông V sử dụng. Vào năm 1994, khi bà Đ chấp hành án hình sự tại trại giam Z, bà Đ đã ký giấy uỷ quyền cho các con làm thủ tục bán nhà cho ông V, tuy nhiên các bên chưa hoàn tất việc mua bán.
Năm 1995, Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) đã kê biên nhà đất trong khuôn viên 1.200m² (bao gồm cả nhà và đất mà ông V và gia đình bà Đ đã thoả thuận mua bán) để thi hành án. Do ông V là người đang quản lý, sử dụng nhà đất bị kê biên nên ông V đã đăng ký tham gia đấu giá và trúng đấu giá. Phần đất 1.200m² mà ông V nhận được qua phát mãi được thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí số 48572/TTĐĐBĐ –VPQ12 ngày 11/3/2019 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Hiện nay, trên đất có các căn nhà ký hiệu (9), (15), (16), (17), (18), (19) đã được Ủy ban nhân dân Quận A4 cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nên ông V sẽ khởi kiện sau.
Ông V đã thực hiện nghĩa vụ của người trúng đấu giá là nộp 20.2697 lượng vàng loại 99,99%, Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành các biên bản giải quyết thi hành án và lập biên bản giao nhà, đất cho ông V sử dụng.
Do ông V không thường xuyên sinh sống trên đất nên từ năm 1996 đến năm 2004, gia đình bà Đ phá rào, chiếm nhà đất của ông V, ông V đã nhiều lần gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân phường nhờ can thiệp.
Ông V được biết, sau khi bà Đ chấp hành xong án phạt tù, bà Đ và các con của bà đã bán 1.200m² đất mà ông V đã mua đấu giá cho một số người. Những người này đã xây dựng nhà trên đất. Do vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà Đ và những người đang quản lý, sử dụng đất phải giao trả đất cho ông.
Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Thanh S và bà Định Thị T18 (vị trí số 9) và ông Cao Văn Q1 (vị trí số 10) của bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 để hai bên tự thỏa thuận.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết:
- Tuyên ông Liên Phương V được quyền sử dụng khuôn viên đất diện tích 936,9m² thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 ngày 11/3/2019 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập.
- Buộc những người đang sử dụng đất tháo dỡ toàn bộ công trình, giao trả đất trống cho nguyên đơn, bao gồm:
- Ông Lê Xuân N, phần đất ký hiệu (1) diện tích 102m²;
- Bà Vũ Thị T6, phần đất ký hiệu (2), diện tích 63,7m²;
- Bà Lê Thị P, phần đất ký hiệu (3), diện tích 62m²;
- Bà Nguyễn Thị H, phần đất ký hiệu (4), diện tích 60,5m²;
- Bà Phạm Thị N3, phần đất ký hiệu (5), diện tích 61,7m²;
- Ông Nguyễn Hữu N5, phần đất ký hiệu (6), diện tích 61,2m²;
- Ông Nguyễn Thanh L2, phần đất ký hiệu (7), diện tích 84,2m²;
- Ông Lê Hữu T3, phần đất ký hiệu (8), diện tích 18,1m²;
- Bà Lê Thị Thu T12, phần đất ký hiệu (11), diện tích 27,7m²;
- Bà Đỗ Thị Thu S1, phần đất ký hiệu (12), diện tích 29,9m²;
- Bà Nguyễn Thị Thu T15, phần đất ký hiệu (13), diện tích 112,3m²;
- Bà Dương Thị L5, phần đất ký hiệu (14), diện tích 96,2m²;
- Hẻm xi măng, phần đất ký hiệu (20), diện tích 126m².
- Đòi nhà 117/1 ấp H, xã T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Để vụ án sớm kết thúc và tạo điều kiện cho các bên, nguyên đơn đưa ra phương án hòa giải với đơn giá đất thỏa thuận là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m², hộ nào có diện tích bao nhiêu thì nhân lên và giao tiền nguyên đơn, nếu các bên không đồng ý với phương án này thì đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007) trình bày:
Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì ông đề nghị Toà án xét xử theo quy định. Ông Lê Hữu T2 đã chết ngày 15/6/2020, ông T2 không có vợ và cũng không có con. Ông Lê Hữu T1 có đăng ký hộ khẩu tại A, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng hiện nay không cư trú ở đây, đi đâu không rõ. Ông không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m².
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:
- Bà Vũ Thị T6 trình bày: Hiện nay gia đình bà đang ở trên phần đất tại vị trí số (2) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 mà các bên đang tranh chấp, có 06 nhân khẩu đang thuê nhà cư trú tại đây (bà T6 không nhớ rõ họ tên). Cả 06 nhân khẩu trên không có đăng ký tạm trú. Nhà đất chưa có số nhà, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bà không đồng ý vì bà mua phần đất nêu trên của bà Đ vào năm 2003 và xây nhà, phần nhà đất có diện tích 63m². Giá mua bao nhiêu bà không nhớ. Bà không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m².
- Ông Nguyễn Đại V1 trình bày: Hiện nay gia đình ông đang ở trên phần đất tại vị trí số (3) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 mà các bên đang tranh chấp, có 06 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Ông Nguyễn Đại V1, sinh năm 1974; Bà Lê Thị P, sinh năm 1979; Trẻ Nguyễn Thùy Phương U, sinh năm 2005 và trẻ Nguyễn Phúc H6, sinh năm 2015; Ông Nguyễn Đại C, sinh năm 1950; Bà Lê Thị X, sinh năm 1950. Tất cả có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý vì ông mua nhà và đất của bà Nguyễn Thị Mộng L6 vào năm 2002, giấy tờ mua bán đã nộp cho Toà án; Phần đất mua của bà L6 có diện tích ngang khoảng ngang 4m, dài 16m, phần nhà đất có diện tích 62m² với giá 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng. Ông không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m2.
- Bà Nguyễn Thị H trình bày: Hiện nay gia đình bà đang ở trên phần đất mà các bên đang tranh chấp tại vị trí số (4) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, có 04 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968; Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1994 và bà Hoàng Thị Vũ H2, sinh năm 1995. Tất cả có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: A, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bà không đồng ý vì bà mua nhà và đất nêu trên của vợ chồng bà Nguyễn Thị Mộng L6, ông Đỗ Văn L7 vào ngày 16/01/2010, phần nhà đất có diện tích 56,26m² với giá 395.000.000 (ba trăm chín mươi lăm triệu) đồng. Bà không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m2.
- Ông Nguyễn Văn D1 là người đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị N3, bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Đại V1, bà Nguyễn Thị H, bà Dương Thị L5 và ông Nguyễn Hữu N5 trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mức giá mà bên nguyên đơn đưa ra không hợp lý, các đương sự ủy quyền cho ông D1 cũng mong muốn thoả thuận được với nguyên đơn để vụ việc được kết thúc có tình, có lý. Bên nguyên đơn có thể xem xét hạ mức giá đất thấp còn 5.000.000 (năm triệu) đồng/m² để các bên cùng bàn bạc, hòa giải vì những người liên quan trong vụ án đều là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đã mua đất và sinh sống ổn định từ lâu.
- Ông Nguyễn Hữu N5 trình bày: Hiện nay gia đình ông đang ở trên phần đất mà các bên đang tranh chấp tại vị trí số (6) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, có 3 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Ông Nguyễn Hữu N5, sinh năm 1966; Bà Phạm Thị Mỹ T16, sinh năm 1976; Trẻ Nguyễn Hoàng P5, sinh năm 2013 (là con của ông N5 và bà T16). Tất cả đều có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Số nhà T, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý vì ông mua nhà và đất của bà Ngô Thị Bích T19 vào năm 2010, giấy tờ mua bán đã nộp cho Toà án; Phần đất mua của bà T19 có diện tích ngang khoảng 4,1m, phần nhà đất có diện tích 61,2m² với giá 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng. Ông không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m².
- Ông Nguyễn Thanh L2 trình bày: Tại phần đất mà nguyên đơn đang tranh chấp tại vị trí số (7) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, gia đình ông có 4 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Ông Nguyễn Thanh L8, sinh năm 1980 (là em của ông L2); Bà Hồ Thị Quỳnh L9, sinh năm 1991; Trẻ Nguyễn Nhã C1, sinh năm 2014 và trẻ Nguyễn Gia H7, sinh năm 2020 (là con của ông L8 và bà L9). Tuy nhiên, ông và gia đình không thường xuyên ở đây, chỉ có gia đình người em ở, chỉ cho ở nhờ chứ không có quan hệ thuê mướn, cả gia đình ông L8 có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý vì ông mua nhà và đất của bà Đỗ Thị T20 và bà Bùi Kim A1 vào ngày 28/6/2013; Phần đất mua của bà T20 có diện tích ngang 4,5m x 11m, phần nhà có diện tích 49,5m² với giá 375.000.000 đồng; Phần đất mua của bà A1 có diện tích ngang 1,5m x 11m, phần nhà có diện tích 16,5m² với giá 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng. Phần đất mua của bà A1 và phần đường trước nhà là lối mòn trên thổ mộ không liên quan đến vụ án này. Theo Bản đồ 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 thì nhà ông có vị trí số (7). Ông không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m².
- Ông Cao Văn Q1 trình bày: Ông mua nhà và đất của ông Lê Văn H8 ngày 25/3/2002, phần nhà và đất có diện tích ngang 3m, dài 10m tại vị trí số (10) của Bản đồ 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, với số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Ông đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về việc rút tranh chấp phần nhà đất ông tại vị trí số (10) trên Bản đồ hiện trạng vị trí- áp ranh ngày 11/3/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
- Bà Lê Thị Thu T12 trình bày: Hiện nay gia đình bà đang ở trên phần đất mà các bên đang tranh chấp tại vị trí số (11) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, có 05 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Bà Lê Thị Thu T12, sinh năm 1975; Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1971; Trẻ Nguyễn Ngọc Quỳnh N6, sinh năm 2004; Trẻ Nguyễn Minh T21, sinh năm 2006; Trẻ Nguyễn Ngọc Quỳnh A2, sinh năm 2010. Tất cả đều có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bà không đồng ý bà mua nhà và đất của bà Diệp Thị Kim T22 vào ngày 02/6/2016 theo giấy tờ mua bán đã nộp cho Toà án; Phần đất nhà mua của bà T22 có diện tích 27,7m² với giá 380.000.000 (ba trăm tám mươi triệu) đồng.Bà không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m2.
- Ông Phạm Thanh T13 trình bày: Hiện nay gia đình ông đang ở trên phần đất mà các bên đang tranh chấp tại vị trí số (12) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, hiện nay có 5 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Bà Đỗ Thị Thu S1, sinh năm 1958; Bà Phạm Thị Thu T14, sinh năm 1990; Ông Nguyễn Thanh P2, sinh năm 1986; Ông Phạm Thanh T13, sinh năm 1995 và bà Nguyễn Thị Kim P3, sinh năm 1992. Cả 05 nhân khẩu trên không có đăng ký tạm trú tại nhà không số, Tổ D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý vì nhà và đất là bà Đỗ Thị Thu S1 (mẹ ông T13) mua của vợ chồng bà Phạm Thị N7, phần nhà đất có diện tích 30m² với giá 385.000.000 (ba trăm tám mươi lăm triệu) đồng. Ông không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m2.
- Bà Dương Thị L5 trình bày: Hiện nay gia đình bà đang ở trên phần đất mà các bên đang tranh chấp tại vị trí số (14) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12, hiện nay có 8 nhân khẩu đang cư trú tại đây bao gồm: Bà Dương Thị L5, sinh năm 1961; Ông Dương Anh T23, sinh năm 1995 và 06 người còn lại là người thuê nhà gồm: Ông T24, bà T14, bà T15, ông T10, bà M. Những người thuê nhà thì không có đăng ký tạm trú. Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bà không đồng ý vì bà mua nhà và đất của ông Lê hữu T1 và bà Huỳnh Thị A3 vào ngày 25/02/1998. Năm 2002 bà xây dựng và bị Ủy ban phường T phạt ngày 02/4/2002, giấy tờ mua bán đã nộp cho Toà án; Phần đất mua của bà L6 có diện tích diện tích 96,2m² với giá 58 chỉ vàng. Bà không đồng ý giá thoả thuận mà phía nguyên đơn đưa ra là 10.000.000 (mười triệu) đồng/m2.
- Bà Đinh Thị T11 trình bày: Đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về việc rút tranh chấp phần nhà đất của vợ chồng bà tại vị trí số (9) trên Bản đồ hiện trạng vị trí- áp ranh ngày 11/3/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
Ông Nguyễn Hữu T25 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đều khai nhận phần lối đi (vị trí số 20) thể hiện trên bản đồ là do người dân sống xung quanh bỏ tiền ra từ làm vào khoảng năm 2014.
Ông Đinh Thái Q là người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị T17 trình bày: Bà T17 đồng ý với toàn bộ ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn và không trình này gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 949/2024/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Xác định ông Liên Phương V có quyền sử dụng phần đất có diện tích 875,1m² thuộc ranh bản đồ 19278/ĐĐBĐ do Đoàn đo đạc bản đồ (nay là trung tâm đo đạc bản đồ) ký ngày 03/6/1995, tại vị trí số (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (11), (12), (13), (14), (20) của bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T lập ngày 11/3/2019 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 59, 60 Bộ địa chính phường T, Quận A (tài liệu năm 2005).
Buộc những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị Kim Đ là ông Lê Hữu T3, ông Lê Hữu T1, bà Lê Thị Ngọc D, bà Lê Thị Ngọc T4, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người đang cư trú trên đất gồm: Lê Xuân N, Nguyễn Thị L1, Vũ Thị T6, Lê Thanh T7, Đặng Thúy K, Nguyễn Đại V1, Lê Thị P, Lê Anh T9, Trần Thị Bích N1, Nguyễn Thanh L2, Phạm Thị P1, Lê Đình A, Lê Sĩ T10, Nguyễn Văn L3, Trần Kim N2, Lê Thị Thu T12, Nguyễn Văn B1, Đỗ Thị Thu S1, Phạm Thanh T13, Phạm Thị Thu T14, Nguyễn Thanh P2, Nguyễn Thị Kim P3, Dương Thị L5, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn H1, Hoàng Thị Vũ H2, Phạm Thị N3, Nguyễn Thị Thu T15, Trần Thị P4, Nguyễn Hữu N5, Phạm Thị Mỹ T16 phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và giao trả cho ông L9 phương V1 phần đất có tổng diện tích 875,1m² thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 59, 60 Bộ địa chính phường T, Quận A (tài liệu năm 2005) tại vị trí số (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (11), (12), (13), (14), (20) của bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T lập ngày 11/3/2019.
Việc thực hiện các nội dung trên do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Thanh S và bà Đinh Thị T11 tại vị trí số (9) tại Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/ĐĐBĐ-VPQ12 ngày 11/3/2019 do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở T lập.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Cao Văn Q1 tại vị trí số (10) tại Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/ĐĐBĐ-VPQ12 ngày 11/3/2019 do T26 trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở T lập.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Vào các ngày 11 và 13 tháng 11 năm 2024, ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5 gửi đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Đại V1, bà Dương Thị L5, bà Nguyễn Thị H, bà Phạm Thị N3, ông Nguyễn Hữu N5, đại diện bà Nguyễn Thị Thu T15 cùng trình bày: Trước đây các ông/bà có ký ủy quyền cho ông Nguyễn Văn D1 là người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án. Nay các ông/bà quyết định chấm dứt việc ủy quyền cho ông Nguyễn Văn D1. Các ông/bà sẽ tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án. Xác định không có yêu cầu người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tham gia phiên tòa.
- Ông Lê Hữu T3 do bà Nguyễn Thị T5 đại diện trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm. Lý do: Cấp sơ thẩm xác định sai nguồn gốc đất tranh chấp, theo văn bản số 18853/VPĐK-KT ngày 13/12/2011 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất – Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H xác định thửa đất 1114 là một phần của thửa 215 tách ra; Tên chủ sử dụng được ghi nhận là bà M1 chứ không phải của bà Đ. Đồng ý với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, bà Lê Thị Thu T12, bà Dương Thị L5, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5 cùng có ý kiến trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, để giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại, vì lý do các hộ dân muốn gặp trực tiếp ông V1 để hòa giải thương lượng. Không có ý kiến việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ông Nguyễn Văn H1: Vắng mặt không rõ lý do.
- Bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông H1 có nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án. Nhưng do bận công việc nên không thể có mặt tham gia phiên tòa. Bà H không được ông H1 lập văn bản ủy quyền tham gia tố tụng. Bà H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H1. Bà H và ông H1 cũng muốn gặp trực tiếp ông V1 để hòa giải thương lượng. Không có ý kiến việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ông Phạm Thanh T13 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, để giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại, vì lý do ông T13 không nhận được các quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập tham gia phiên tòa của Tòa án cấp sơ thẩm, gia đình ông cũng muốn gặp trực tiếp ông V1 để hòa giải thương lượng. Không có ý kiến việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ông Nguyễn Thanh L2 trình bày: Ông có làm đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 18/6/2025. Ông xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, vì lý do ông muốn gặp trực tiếp ông V1 để hòa giải thương lượng. Không có ý kiến việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Luật sư Vũ Đức H5 là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu T15 trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp, bản án sơ thẩm căn cứ vào giấy viết tay do ông Nguyễn Hữu H9 bán cho bà Nguyễn Thị B2, rồi bà B2 bán cho bà Đ để xác định phần đất tranh chấp là của bà M1 là không đúng bởi lẽ căn cứ theo văn bản số 18853/VPĐK-KT ngày 13/12/2011 xác định thửa đất 1114 là một phần của thửa 215 tách ra; Tên chủ sử dụng được ghi nhận là bà M1.
Tại bản án sơ thẩm, phúc thẩm và quyết định thi hành án chỉ ghi tiếp tục kê biên tạm giữ căn nhà 117/1 ấp H, xã T, huyện H trên đất thổ cư 1.200m² để đảm bảo thi hành án, nhưng khi tiến hành thi hành án năm 1995 chấp hành viên Lê Tấn N8 đã không kiểm tra xác định ai là chủ sở hữu của tài sản kê biên đã vội ra quyết định bán tài sản kê biên. Như vậy, việc thi hành án năm 1995 do chấp hành viên Lê Tấn N8 thực hiện là trái pháp luật, không đúng với nội dung các bản án và quyết định thi hành án. Chính vì vậy, ông V1 đã mua được tài sản kê biên thông qua việc đấu giá nhưng Ủy ban nhân dân huyện H đã không công nhận ông V1 có quyền sở hữu đối với tài sản này; Các tài liệu, chứng cứ ông V1 cung cấp liên quan đến việc mua tài sản kê biên từ cơ quan thi hành án không phù hợp với việc giải quyết tranh chấp dân sự.
Ngoài ra khi bà Đ được trả tự do năm 1999, sau năm 2005 bà Đ với tư cách là người thừa kế duy nhất của bà M1 thì bà Đ đã bán đất cho bà T15, việc mua bán là ngay tình mà sơ thẩm không xem xét quyền lợi cho bà T15 là vi phạm thủ tục tố tụng do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 12.
- Bà Nguyễn Thị Thu T15 có ông Nguyễn Hoàng H4 đại diện trình bày: Đồng ý với ý kiến của Luật sư. Bổ sung ý kiến: Cấp sơ thẩm không đưa hai người bán nhà cho bà T15 là ông Trần Văn T27 và bà Lê Thị T28 vào tham gia tố tụng để giải quyết quyền lợi cho bà T15 là vi phạm tố tụng, ngoài ra bà T15 mua nhà ở địa chỉ 117/1 ấp H, xã T, Quận A chứ không mua đất nên nay buộc trả đất là không đúng.
- Bà Nguyễn Thị Thu T15 có bà Nguyễn Thị T5 đại diện trình bày: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm do xác định sai nguồn gốc đất tranh chấp, không đưa người bán đất cho bà T15 vào tham gia tố tụng.
- Đại diện nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích 1,6m² tại vị trí số (19) có tên bà Nguyễn Thị Kim T29 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 48572/TTĐĐBĐ –VPQ12 ngày 11/3/2019. Đối với nhà đất tại địa chỉ số A ấp H, xã T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nguyên đơn yêu cầu buộc tháo dỡ căn nhà do là nhà xây dựng không phép để trả lại đất cho nguyên đơn, nguyên đơn không yêu cầu đòi nhà. Nguyên đơn xác định chỉ đòi quyền sử dụng đất, buộc những người đang sử dụng đất và cư trú trên đất phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và giao trả cho nguyên đơn phần đất có tổng diện tích 875,1m² thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 59, 60 Bộ địa chính phường T, Quận A (tài liệu năm 2005) tại vị trí số (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (11), (12), (13), (14), (20) của bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T lập ngày 11/3/2019. Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của các đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của: Ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, bà Phạm Thị N3, bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5, ông Nguyễn Thanh L2, ông Nguyễn Văn H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm:
Phần diện tích nhà đất đang tranh chấp bị kê biên để đảm bảo thi hành án theo Bản án hình sự số 964 ngày 18/12/1992 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự số 1065/PT ngày 19/10/1993 của Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ chí Minh.
Căn cứ theo Quyết định bán tài sản để thi hành án số 91A/THA ngày 11/3/1995, biên bản giải quyết thi hành án ngày 27/2/1995, ngày 08/6/1995, ngày 22/9/1995, biên bản bàn giao nhà ngày 15/9/1995 của Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh, Bản đồ hiện trạng vị trí số 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995 của Đoàn đo đạc bản đồ Sở Địa chính Thành phố H có cơ sở xác định ông Liên Phương V là người đã nhận chuyển nhượng hợp pháp phần diện tích 963m² thông qua việc mua bán đấu giá năm 1995. Ông V đã thanh toán đầy đủ tiền mua và được bàn giao nhà đất. Năm 1999, ông V kê khai đất theo tờ đăng ký nhà đất đúng quy định. Như vậy, xác định ông V là chủ sử dụng hợp pháp kể từ năm 1995.
Theo Biên bản bàn giao ngày 15/9/1995, thì diện tích đất giao cho ông V mua đấu giá là 1.200m², theo Bản đồ áp ranh số 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995 là 963m², theo nguyên đơn trình bày sự chênh lệch diện tích là do sai số trong quá trình đo đạc. Tại công văn số 6566/CTHADS ngày 29/5/2019 trả lời lý do chênh lệch giữa quyết định bán và bản vẽ đo đạc là do bản vẽ hiện trạng vị trí số 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995 được lập theo hướng dẫn của ông V phần gia đình bà Đ đã bán không hợp pháp cho ông. Phần diện tích mà cơ quan thi hành án bán, phối hợp với địa phương giao cho ông V là phần có đánh dấu (x) vị trí cắm mốc trên bản đồ hiện trạng ngày 03/6/1995. Như vậy, có cơ sở xác định phần diện tích mua đấu giá qua thi hành án là 963m².
Hiện ông V khởi kiện tranh chấp đối với phần diện tích 873,5m² cụ thể như sau: Ông Lê Xuân N, phần đất ký hiệu (1) diện tích 102 m²; Bà Vũ Thị T6, phần đất ký hiệu (2), diện tích 63,7 m²; Bà Lê Thị P, phần đất ký hiệu (3), diện tích 62 m²; Bà Nguyễn Thị H, phần đất ký hiệu (4), diện tích 60,5 m²; Bà Phạm Thị N3, phần đất ký hiệu (5), diện tích 61,7 m²; Ông Nguyễn Hữu N5, phần đất ký hiệu (6), diện tích 61,2 m²; Ông Nguyễn Thanh L2, phần đất ký hiệu (7), diện tích 84,2 m²; Ông Lê Hữu T3, phần đất ký hiệu (8), diện tích 18,1 m²; Bà Lê Thị Thu T12, phần đất ký hiệu (11), diện tích 27,7 m²; Bà Đỗ Thị Thu S1, phần đất ký hiệu (12), diện tích 29,9 m²; Bà Nguyễn Thị Thu T15, phần đất ký hiệu (13), diện tích 112,3 m²; Bà Dương Thị L5, phần đất ký hiệu (14), diện tích 96,2 m²; Hẻm xi măng, phần đất ký hiệu (20), diện tích 126 m² theo Bản đồ hiện trạng áp ranh ngày 11/3/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thể hiện diện tích đất trong phần ranh mà ông V đã mua.
Đối với việc nhận chuyển nhượng phần đất đang tranh chấp của ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, bà Nguyễn Thị Thu T15, bà Đỗ Thị Thu S1, bà Lê Thị Thu T12, bà Lê Thị H10, bà Phạm Thị N3, ông Nguyễn Hữu N5, bà Dương Thị L5 đều mua bán bằng giấy tay và được thực hiện sau năm 1995 là không đúng quy định nên không có căn cứ xác định việc mua bán này là hợp pháp.
Theo trình bày của các hộ dân đang trực tiếp quản lý, sử dụng thì phần đất ở vị trí (20) hiện là đường đi do các hộ dân tự làm vào năm 2014.
Theo công văn số 520/QLĐT ngày 28/4/2022 của Phòng quản lý đô thị Quận A, căn cứ quy hoạch chi tiết sử dụng đất tỷ lệ 1/2000 khu dân cư phường T đã được Ủy ban nhân dân Quận A4 phê duyệt tại Quyết định số 121/QĐ-UB ngày 31/5/2004 và đồ án điều chỉnh quy hoạch lộ giới hẻm phường T đã được Ủy ban nhân dân Quận A4 phê duyệt tại quyết định số 331/QĐ-UBND-ĐT ngày 15/9/2010 thì phần nhà đất mà các bên tranh chấp với nhau thuộc quy hoạch đất dân cư hiện hữu chỉnh trang, lộ giới hẻm phía Tây Nam 10m, lộ giới hẻm phía Nam 4m và lộ giới hẻm phía T 4,5m, vạc góc giao lộ theo quy hoạch được phê duyệt. Ngoài ra, theo trình bày của các đương sự việc xây dựng của các hộ dân là xây dựng trái phép nên việc xây dựng các công trình trên phá vỡ quy hoạch của Ủy ban nhân dân Quận A4.
Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu T15 cho rằng tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Trần Văn T27 và bà Lê Thị T28 là người bán đất cho bà T15 vào tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng: Nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án bà T15 không có yêu cầu độc lập đối với việc chuyển nhượng giữa bà T15 và ông T27, bà T28 nên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông T27 bà T28 vào tham gia tố tụng là có cơ sở.
Đối với yêu cầu kháng cáo của ông H1, do ông H1 đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng nên có căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông H1.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích 1,6m² tại vị trí số (19), nhận thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn cũng đồng ý với việc rút nên có căn cứ đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu công nhận 1.6m² tại vị trí số (19) của nguyên đơn; Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu đòi nhà tại địa chỉ số A ấp H, xã T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên nguyên đơn buộc tháo dỡ căn nhà do là nhà xây dựng không phép để trả lại đất cho nguyên đơn, nhận thấy mặc dù nguyên đơn vẫn yêu cầu đòi nhà nhưng buộc những người liên quan phải tháo dỡ nhà nên Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên trả nhà mà buộc tháo dỡ nhà trả đất là đã giải quyết yêu cầu này của nguyên đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh T13 đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng ông không nhận được các quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, nhận thấy ông T13 có mặt tại các phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào ngày 27/9/2024, 25/10/2024, 31/10/2024 nên ông T13 đã biết thông tin về phiên tòa và trực tiếp tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên nội dung kháng cáo của ông T13 là không có căn cứ. Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Nguyễn Văn H1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn; Không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T6, bà Lê Thị Thu T12, ông Nguyễn Đại V1, bà Dương Thị L5, ông Lê Xuân N, ông Phạm Thanh T13, ông Nguyễn Hữu N5, bà Phạm Thị N3, bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Thanh L2. Sửa bản án sơ thẩm số 949/2024/DS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12 theo hướng đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần diện tích 1,6m² tại vị trí (19) trên Bản đồ vị trí – áp ranh ngày 11/3/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H. Về chi phí tố tụng và án phí các bên phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn kháng cáo của ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5 trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên được chấp nhận.
[1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Ông Lê Hữu T1 là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Lê Thanh T7, Bà Lê Hoài T8, bà Đặng Thúy K, bà Lê Thị P, ông Lê Anh T9, bà Trần Thị Bích N1, bà Phạm Thị P1, ông Lê Đình A, ông Lê Sỹ T30, ông Nguyễn Văn L3, bà Trần Kim N2, ông Cao Văn Q1, bà Bùi Thị L4, ông Nguyễn Văn B1, bà Đỗ Thị Thu S1, bà Phạm Thị Thu T14, ông Nguyễn Thanh P2, bà Nguyễn Thị Kim P3, bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn H1, bà Hoàng Thị Vũ H2, ông Nguyễn Văn H3, bà Trần Thị P4, bà Phạm Thị Mỹ T16, ông Đinh Thái Q (đại diện ông Liên Phương V và bà Nguyễn Thị T17) đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; Ông Nguyễn Thanh S, bà Đinh Thị T11 xin vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Xét, kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1: Tòa đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa trong đó thông báo về ngày giờ mở phiên tòa xét xử đến lần thứ hai nhưng ông H1 vắng mặt không lý do, nên có căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông H1.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T25 và bà Nguyễn Thị Thu T15, nhận thấy:
Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Căn cứ tài liệu chứng cứ thể hiện phần đất 1.200m² là một phần thửa 113, 115 và trọn thửa 114, tờ bản đồ số 2 (tài liệu năm 1991) mà các bên tranh chấp do ông Nguyễn Hữu H9 đăng ký quản lý, sử dụng, rồi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị B2, năm 1989 bà B2 bán phần đất này cho bà Võ Thị Kim Đ, khi sử dụng bà Đ xây nhà số A ấp H trên diện tích đất 1.200m². Năm 1993, bà Đ và các con là Lê Hữu T1, Lê Hữu T2, Lê Hữu T31, Lê Hữu T3, Lê Thị Ngọc D và Lê Thị Ngọc T4 bán nhà và đất cho ông Liên Phương V với giá 17 lượng vàng 24K, đã giao 16,5 lượng, còn nợ lại 5 chỉ ông V sẽ giao khi hoàn tất thủ tục mua bán. Ông T3 và bà T15 căn cứ vào văn bản số 18853/VPĐK-KT ngày 13/12/2011 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho rằng bà M1 đứng tên sử dụng diện tích 832m² từ đó dẫn đến việc cơ quan thi hành án thực hiện bán tài sản kê biên không đúng của chủ sở hữu. Xét thấy, tại văn bản số 18853/VPĐK-KT có ghi nhận: “thửa số 1114, diện tích 832, tên chủ sử dụng Nguyễn Thị M1”, tuy nhiên cũng theo văn bản ghi nhận thửa số 215, diện tích 2.064m², tên chủ sử dụng là Nguyễn Hữu H9. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy diện tích 832 tên chủ sử dụng Nguyễn Thị M1 thuộc một phần lô đất của ông Nguyễn Hữu H9 mà bà B2 đã nhận chuyển nhượng toàn bộ, rồi từ bà B2 chuyển nhượng cho bà Đ không phải có nguồn gốc từ bà Nguyễn Thị M1, năm 1993 bà Đ và các con là Lê Hữu T1, Lê Hữu T2, Lê Hữu T31, Lê Hữu T3, Lê Thị Ngọc D và Lê Thị Ngọc T4 bán nhà và đất cho ông Liên Phương V với giá 17 lượng vàng 24K, đã giao 16,5 lượng, còn nợ lại 5 chỉ ông V sẽ giao khi hoàn tất thủ tục mua bán. Vào thời điểm bà Đ bị xử lý hình sự theo Bản án hình sự số 964 ngày 18/12/1992 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí minh và Bản án hình sự số 1065 ngày 19/10/1993 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận toàn bộ diện tích đất 1.200m² và căn nhà 117/1 H của bà Đ bị kê biên bà Đ cũng không có tranh chấp hay khiếu nại gì về việc bà M1 là chủ sử dụng đối với phần đất trên.
Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 964 và Bản án hình sự phúc thẩm số 1065 ngày 19/10/1993 phần quyết định có nội dung “Tạm giữ căn nhà 117/1 H (T33) Tân Chánh H11, H trên diện tích đất thổ cư 1.200m2 để đảm bảo thi hành án” trên cơ sở đó Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định bán tài sản để thi hành án số 91A/THA ngày 11/3/1995 bán đấu giá cho ông V theo Biên bản giải quyết thi hành án các ngày 27/2/1995, 08/6/1995, 22/9/1995, Biên bản giao nhà ngày 15/9/1995 của Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh, Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995 của Đoàn đo đạc Bản đồ sở địa chính Thành phố H, Công văn số 6566/CTHADS ngày 29/5/2019, Công văn số 8012/CTHADS ngày 09/5/2019 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, có đủ cơ sở xác định phần đất diện tích 936,9m², gồm các ký hiệu (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (20) thuộc phần đất mà ông Liên Phương V đã nhận chuyển nhượng hợp pháp thông qua việc mua bán đấu giá vào năm 1995. Ngày 20/9/1999, ông V kê khai đất theo tờ đăng ký nhà-đất theo quy định.
Về sự chênh lệch diện tích đất, tại các quyết định thi hành án giao cho ông V là 1.200m², Bản đồ áp ranh số 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995 kèm theo là 963m², Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh ngày 11/3/2019 do ông V hướng dẫn là 936,9m², Bản đồ hiện trạng vị trí số 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995 là theo hướng dẫn của ông V, phần diện tích mà cơ quan thi hành án bán, phối hợp với địa phương giao cho ông V là phần có đánh dấu (x) vị trí cắm mốc trên nền Bản đồ hiện trạng vị trí số 19278/ĐĐ ngày 03/6/1995. Như vậy, thực tế phần đất ông V được mua đấu giá thông qua cơ quan thi hành án là 963m² nhưng theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh ngày 11/3/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thì phần đất diện tích mà ông V tranh chấp thể hiện 936,9m² có ký hiệu (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (19), (20), nay ông V xác định chỉ yêu cầu tranh chấp đối với diện tích 936,9m².
Như vậy có căn cứ để xác định quá trình ông V mua thửa đất trên qua hình thức đấu giá tài sản theo đúng quy định pháp luật và là chủ sử dụng đất hợp pháp của phần đất diện tích 936,9m² từ năm 1995. Việc bà Đ cùng các con của bà chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà sau năm 1995 và sau thời điểm Tòa án thụ lý năm 2003 cho những người khác và những người này tiếp tục chuyển nhượng cho ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5 bằng giấy tay là không đúng quy định pháp luật.
Bà T15 yêu cầu Toà án triệu tập bà T14, ông T27 là người bán nhà cho bà T15 đến Tòa để giải quyết hậu quả của việc sang nhượng nhà đất đồng thời triệu tập chấp hành viên Lê Tấn N8 có mặt tại phiên toà. Xét thấy, tại cấp sơ thẩm bà T15 đã được giải thích quyền và nghĩa vụ về yêu cầu xem xét giá trị nhà trên đất đồng thời cũng cho thời gian để các bên thực hiện quyền yêu cầu của mình. Tuy nhiên bà vẫn không nộp đơn yêu cầu độc lập theo quy định của pháp luật cũng như không có yêu cầu độc lập. Tại công văn số 689/CTHADS ngày 09/7/2019 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lời cho Tòa án do thiếu sót trong khâu kiểm tra nên viết nhầm là Liêm Phương V2, thực chất là ông Liên Phương V sinh ngày 19/11/1959, chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 15/9/1988, địa chỉ 2 T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người mua tài sản phát mãi khi cơ quan thi hành án tổ chức thi hành Bản án hình sự số 1065/HSPT ngày 19/10/1993 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, như vậy không cần thiết phải triệu tập ông T27, bà T14 và ông N8.
[2.3] Đối với kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác như ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị N3, ông Nguyễn Hữu N5 yêu cầu kháng cáo hủy bản án sơ thẩm với lý do cần thời gian được gặp trực tiếp ông V1 hòa giải thương lượng. Xét thấy, ông Liên Phương V đã có người đại diện và vụ án đã thụ lý từ năm 2003 đến năm 2024 mới đưa ra xét xử sơ thẩm nhưng các đương sự vẫn không thương lượng hòa giải được với nhau, hơn nữa đây không phải là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các đương sự trên.
[2.4] Đối với kháng cáo của ông Phạm Thanh T13 - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng không nhận được giấy triệu tập đến tham dự phiên tòa, xét thấy tại biên bản phiên tòa ngày 27/9/2024, ngày 25/10/2024 ông T13 có mặt, kết thúc phiên tòa ngày 25/10/2024 Hội đồng xét xử thông báo thời gian tuyên án lúc 09 giờ ngày 31/10/2014. Như vậy ông T13 cho rằng không nhận được giấy triệu tập tham gia phiên tòa là không có cơ sở.
[2.4] Các đương sự đều xác định nhà được xây trên phần đất tranh chấp là do tự xây cất không được cơ quan chức năng cho phép. Theo công văn số 520/QLĐT ngày 28/4/2022 của Phòng quản lý đô thị Quận A, căn cứ quy hoạch chi tiết sử dụng đất tỷ lệ 1/2000 khu dân cư phường T đã được Ủy ban nhân dân Quận A4 phê duyệt tại Quyết định số 121/QĐ-UB ngày 31/5/2004 và đồ án điều chỉnh quy hoạch lộ giới hẻm phường T đã được Ủy ban nhân dân Quận A4 phê duyệt tại quyết định số 331/QĐ-UBND-ĐT ngày 15/9/2010 thì phần đất mà các bên đang tranh chấp với nhau thuộc quy hoạch đất dân cư hiện hữu chỉnh trang, lộ giới hẻm phía Tây Nam 10m, lộ giới hẻm phía Nam 4m (MSH57, MSH58) và lộ giới hẻm phía T 4,5m (MSH56), vạc góc giao lộ theo quy hoạch được duyệt. Như vậy, việc xây nhà trên đất không xin phép cơ quan chức năng của các hộ dân trên đất là phá vỡ quy hoạch chung theo quyết định 331/QĐ-UBND-ĐT ngày 15/9/2010 của Ủy ban nhân dân Quận A4. Nên yêu cầu những hộ dân có nhà trên đất tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất, giao trả đất trống cho nguyên đơn là phù hợp. Tại cấp sơ thẩm các đương sự đã được giải thích quyền và nghĩa vụ về yêu cầu xem xét giá trị nhà trên đất đồng thời cũng cho thời gian để các bên thực hiện quyền yêu cầu của mình. Tuy nhiên các đương sự vẫn không nộp đơn yêu cầu độc lập theo quy định của pháp luật nên không có cơ sở xem xét.
[2.5] Riêng đối với vị trí số (20) của bản đồ, theo lời khai của những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất phần đất lối đi tại vị trí số (20) của bản đồ do các bên tự làm vào khoảng năm 2014 không thuộc về ai quản lý sử dụng và cũng không có tranh chấp gì đối với phần lối đi này nên không xem xét.
[2.6] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có yêu cầu đòi căn nhà tại địa chỉ 1 ấp H, xã T, Quận A, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện của ông T3 và bà T15 xác định căn nhà trên do bà Đ tự xây dựng không xin phép nên nguyên đơn đồng ý rút yêu cầu này vì thực ra nguyên đơn đã có yêu cầu tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất tức là bao gồm cả căn nhà trên. Ghi nhận ý kiến này của nguyên đơn, cấp sơ thẩm không xem xét đối với yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp.
[2.7] Xét thấy phần đất diện tích 936,9m² có ký hiệu (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (19), (20) tại Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh ngày 11/3/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, có vị trí số (19) trong ranh bản đồ với diện tích 1.6m² có tên Lê Thị Kim T32 tuy nhiên cấp sơ thẩm đã bỏ sót không xem xét đối với vị trí này, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đã rút yêu cầu tranh chấp đối với phần diện tích 1.6m² thuộc vị trí (19), xác định chỉ tranh chấp đối với diện tích đất 873,5m² và bị đơn đồng ý đối với việc rút yêu cầu này nên Hội đồng xét xử đình chỉ. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện đòi phần đất ký hiệu (9) mà ông Nguyễn Thanh S và bà Đinh Thị T11 đang quản lý, sử dụng và phần đất ký hiệu (10) mà ông Cao Văn Q1 đang quản lý sử dụng do nguyên đơn rút yêu cầu là có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5, đình chỉ xét xử phúc thẩm với kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1. Sửa một phần bản án sơ thẩm theo nhận định trên.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Nguyên đơn ông Liên Phương V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn phải chịu án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm. Những người kháng cáo ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5 không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn lại cho những người kháng cáo tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp. Người kháng cáo ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 30, 31 Luật Đất đai năm 1993; Điều 328, 422, 428 Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thi hành án Dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5.
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 949/2024/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liên Phương V:
- Xác định ông Liên Phương V có quyền sử dụng phần đất có diện tích 873,5m² thuộc ranh Bản đồ 19278/ĐĐBĐ do Đoàn đo đạc bản đồ (nay là trung tâm đo đạc bản đồ) ký ngày 03/6/1995, tại vị trí số (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (11), (12), (13), (14), (20) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 11/3/2019 thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 59, 60 Bộ địa chính phường T, Quận A (tài liệu năm 2005).
- Buộc những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007) là ông Lê Hữu T3, ông Lê Hữu T1, bà Lê Thị Ngọc D, bà Lê Thị Ngọc T4; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người đang cư trú trên đất gồm các ông (bà): Lê Xuân N, Nguyễn Thị L1, Vũ Thị T6, Lê Thanh T7, Đặng Thúy K, Nguyễn Đại V1, Lê Thị P, Lê Anh T9, Trần Thị Bích N1, Nguyễn Thanh L2, Phạm Thị P1, Lê Đình A, Lê Sĩ T10, Nguyễn Văn L3, Trần Kim N2, Lê Thị Thu T12, Nguyễn Văn B1, Đỗ Thị Thu S1, Phạm Thanh T13, Phạm Thị Thu T14, Nguyễn Thanh P2, Nguyễn Thị Kim P3, Dương Thị L5, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn H1, Hoàng Thị Vũ H2, Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), Nguyễn Thị Thu T15, Trần Thị P4, Nguyễn Hữu N5, Phạm Thị Mỹ T16 phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và giao trả cho ông Liên Phương V phần đất có tổng diện tích 875,1m² thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 59, 60 Bộ địa chính phường T, Quận A (tài liệu năm 2005) tại vị trí số (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (11), (12), (13), (14), (20) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 11/3/2019.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liên Phương V:
Việc thực hiện các nội dung trên do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất tại vị trí số (19) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 11/3/2019.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Thanh S và bà Đinh Thị T11 tại vị trí số (9) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 11/3/2019.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Cao Văn Q1 tại vị trí số (10) của Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 11/3/2019.
4. Về án phí dân sự:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
4.1.1. Nguyên đơn ông Liên Phương V không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông Liên Phương V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.000.000 (một triệu) đồng theo Biên lai thu tiền án phí quyển số 000884, số 044161 ngày 30/10/2003 của Đội Thi hành án Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.1.2. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Võ Thị Kim Đ phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
4.2.1. Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049435 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn H1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
4.2.2. Những người kháng cáo là: Ông Lê Hữu T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Võ Thị Kim Đ (chết năm 2007); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân N, bà Vũ Thị T6, ông Nguyễn Đại V1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Lê Thị Thu T12, ông Phạm Thanh T13, bà Dương Thị L5, bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4), bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Nguyễn Hữu N5 không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Hoàn trả lại cho ông Lê Hữu T3 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049444 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho ông Lê Xuân N tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0083796 ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho bà Vũ Thị T6 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049446 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Đại V1 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049436 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thanh L2 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049445 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho bà Lê Thị Thu T12 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049440 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho ông Phạm Thanh T13 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049439 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho bà Dương Thị L5 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049441 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị N3 (Phạm Thị N4) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049437 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu T15 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049434 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hữu N5 tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049438 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Doãn Thị Kim Thúy |
Bản án số 692/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 692/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án
